SKKN Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt (GV: Nguyễn Thị Hiển)
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt (GV: Nguyễn Thị Hiển)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................. 2 1. Lí do chọn đề tài................................................................................. 2 2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................... 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.......................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................... 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU............................................................ 4 1. Cơ sở lí luận....................................................................................... 4 2. Cơ sở thực tiễn.................................................................................. 5 2.1. Thực trạng của việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 5 trong dạy học môn Tiếng Việt................................................................ 2.2. Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt 6 3. Các biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt............................................................... 7 3.1. Củng cố nhận biết mặt chữ cho HS từ những tuần đầu....................... 7 3.2. Tạo sự hứng thú trong giờ đọc, viết thông qua khai thác học liệu điện tử (sách điện tử), ứng dụng CNTT tạo bài giảng hấp dẫn ............. 8 3.3. Xây dựng phong trào văn hóa đọc cho học sinh............................. 9 3.4. Đổi mới cách tuyên dương, khen thưởng học sinh......................... 11 3.5. Duy trì phong trào “Nét chữ nết người”.......................................... 12 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG........................................................... 13 1. Kết quả................................................................................................... 13 2. Ứng dụng............................................................................................... 14 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................... 14 1. Kết luận .................................................................................................. 14 2. Kiến nghị .......................................................................................... 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 16 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Ngôn ngữ là công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ. Môn Tiếng Việt, môn học có vị trí nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hình thành ngôn ngữ giao tiếp, là thứ ngôn ngữ dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam đã được ra đời và đưa vào giảng dạy trong trường Tiểu học. Nó có một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cao cả đó là cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh về tiếng Việt qua các hình thức (đọc, viết, nói, nghe) góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Qua đó tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em, rèn luyện, phát triển kỹ năng nói và hiểu một cách có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ. Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: Đọc, viết, nói, nghe. Kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh, các yêu cầu trong các môn học khác. Tuy nhiên, bên cạnh những học sinh biết nói, biết viết rõ ràng, mạch lạc cũng còn rất nhiều học sinh chưa biết dùng tiếng Việt một cách thành thạo để diễn đạt ý nghĩ, tình cảm của mình: Phát âm sai, viết sai chính tả, dùng từ chưa đúng, chưa biết đặt câu, chấm câu. Vậy làm thế nào để khắc phục được những tình trạng trên, cải tiến được những sai sót mà học sinh hiện nay còn mắc phải? Đó chính là nội dung đề tài mà tôi đã chọn nghiên cứu: “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt”. 3 2. Mục đích nghiên cứu Tôi thực hiện các giải pháp này với mong muốn: - Ghi lại những giải pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 để chọn lọc và đúc kết thành kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học. - Được chia sẻ, học hỏi thêm ở đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1. - Nhận được sự chia sẻ chân thành từ Ban Giám hiệu nhà trường, từ tổ chuyên môn cùng các đồng nghiệp để tôi phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót để hoàn thiện, trau dồi chuyên môn bản thân mình. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Khảo sát học sinh từ đầu năm để phân loại đối tượng học sinh về năng lực ngôn ngữ. - Phân tích số liệu thu thập được về các kỹ năng đọc - viết - nói - nghe của học sinh, tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó. - Đề xuất, thực nghiệm các biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1. - Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và chia sẻ các biện pháp đã thực hiện. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của biện pháp giáo dục là những lý luận và thực tiễn việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Vì thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu nội dung việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 1 tại đơn vị tôi, năm học 2021 - 2022. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Là phương pháp nghiên cứu tài liệu về việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học 4 môn Tiếng Việt. 5.2. Phương pháp phân tích: Là phương pháp được sử dụng khi đã có nội dung lý luận nhằm tiến hành phân tích các yếu tố cơ bản của nội dung cần nghiên cứu . 5.3. Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng dựa trên kết quả đã phân tích. Tôi tiến hành tổng hợp và kết luận về nội dung nghiên cứu. Từ đó có cơ sở để đề xuất một số ý kiến trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của con người. Nhờ sự tham gia của ngôn ngữ vào việc tổ chức, điều chỉnh các hoạt động tâm lý mà tâm lý của con người mang tính mục đích, tính xã hội và tính khái quát cao.Việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 sẽ giúp các em học Tiếng Việt có hiệu quả. Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 chính là nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển ngôn ngữ, chuẩn bị cho học sinh tham gia cuộc sống. Ngôn ngữ được xem là mã lời nói là thông báo cụ thể, ngôn ngữ là cái tiềm tàng và qua giao tiếp, cái tiềm tàng đó sẽ được hiện thực hoá và phát triển. Giao tiếp ngôn ngữ như một hình thức ngôn ngữ tham gia vào cuộc sống sẽ là yếu tố trung gian để con người truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm cuộc sống. Khi được người giáo viên nâng cao năng lực ngôn ngữ, học sinh sẽ lấy đó làm nền tảng khi giao tiếp ngoài xã hội một cách trực tiếp (đối thoại, hội thoại,..) và gián tiếp (viết văn, viết đơn từ, ) và cũng từ đó năng lực ngôn ngữ của các em ngày càng được nâng cao và phát triển. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng quy định các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của học sinh, trong đó có năng lực ngôn ngữ (được thể hiện qua các hoạt động: đọc, viết, nói, nghe). Năng lực ngôn ngữ thể hiện trước hết ở hoạt động động đọc. Ở cấp tiểu 5 học: học sinh biết đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc theo các yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu Đối với hoạt động viết, ở cấp tiểu học: yêu cầu học sinh viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn văn ngắn; bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản; viết được văn bản kể lại những câu chuyện đã đọc, những sự việc đã chứng kiến, tham gia, những câu chuyện do học sinh tưởng tượng; miêu tả những sự vật, hiện tượng quen thuộc; giới thiệu về những sự vật và hoạt động gần gũi với cuộc sống của học sinh; viết đoạn văn nêu những cảm xúc, suy nghĩ của học sinh khi đọc một câu chuyện, bài thơ, khi chứng kiến một sự việc gợi cho học sinh nhiều cảm xúc; nêu ý kiến về một vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống; viết một số kiểu văn bản như: bản tự thuật, tin nhắn, giấy mời, thời gian biểu, đơn từ; bước đầu biết viết theo quy trình; bài viết cần có đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài). Như vậy, năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểu hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nói, nghe cấu thành. Các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy các em học sinh lớp 1 tại đơn vị được 7 năm, trong quá trình giảng dạy cũng như tiếp xúc với các em học sinh ở đây, tôi nhận thấy: - Các em còn phát âm sai, nói ngọng rất nhiều, đọc chưa diễn cảm, chưa đúng ngữ điệu, đọc chưa lưu loát, diễn đạt câu chưa đầy đủ. Các em thường phát âm sai các phụ âm đầu như đọc lẫn lộn giữa n/ l, phát âm p (pờ) 6 thành b (bờ), s thành x, tr thành ch... . Các lỗi phần vần, âm cuối các em hay mắc như: huệ phát âm thành hệ, hoa thành ha, xanh thành xăn, ngạt mũi thành ngạc mũi, toàn thành toàng, máy bay thành mái bai, thỉnh thoảng thành thỉnh thoản, hươu thành hiêu, mưu trí thành miu chí...các em còn nói ngọng như rỡ thành rớ, quyển vở thành quyện vợ, đã thành đá... 2.2. Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt Ngay từ đầu năm học 2021 - 2022, khi được nhận lớp 1A6, tôi đã theo dõi sự phát triển năng lực ngôn ngữ của các em học sinh. Tôi nhận thấy còn những mặt hạn chế sau: - Học sinh chưa nhớ hết mặt chữ cái. - Học sinh chưa hứng thú với các giờ đọc, viết. - Học sinh không ham thích đọc. - Học sinh chưa hứng thú với phương pháp động viên, khích lệ của giáo viên. Qua khảo sát về năng lực ngôn ngữ của học sinh lớp mình, tôi thu được kết quả như sau: Bảng 1. Kết quả khảo sát năng lực ngôn ngữ của học sinh lớp 1A6 đầu năm học Đầu năm học Năng lực ngôn ngữ Tổng số HS Số HS Tỉ lệ Đọc to, lưu loát, trôi chảy 38 12 31,6% Viết đúng cỡ chữ, chữ viết đều, đẹp. 38 15 39,5% Diễn đạt mạch lạc, đủ ý. 38 15 39,5% Biết lắng nghe và đặt câu hỏi 38 10 26,3% Qua bảng khảo sát cho thấy các chỉ số năng lực đọc - viết - nói - nghe còn rất hạn chế. Theo tôi, những hạn chế đó xuất phát từ những nguyên nhân sau: - Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên HS mầm non nghỉ học nhiều. Việc trẻ ở nhà quá lâu, không tới trường sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển về thể 7 chất cũng như nhận thức của các em. Nhiều em chưa nhớ hết mặt chữ cái, phát âm còn ngọng. - Do các em bước đầu vào môi trường học tập gò bó: Khi còn học tại trường mầm non, các em được vui chơi thỏa thích, tham gia học tập với tâm lí nhẹ nhàng, thời gian học tập ngắn hơn và các hoạt động tĩnh - động luôn được kết hợp đan xen nên các em cảm thấy học tập không hề nhàm chán. Thời gian đó, các em chưa bị gò bó theo một khoảng thời gian dài với việc ngồi học và cầm bút nghiêm túc. Nhưng khi bước vào lớp 1, các em tiếp xúc với môi trường hoàn toàn mới, mọi hoạt động đều diễn ra có nội quy, kỷ luật, thời gian cho các hoạt động học là chủ yếu, đòi hỏi các em phải có tính kiên trì. - Học sinh ít tiếp xúc, ít đọc sách, truyện, chủ yếu tiếp cận thiết bị điện tử (điện thoại, máy tính) chơi game: Trong thời điểm hiện tại, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các phương tiện nghe nhìn tỏ ra có nhiều ưu thế hơn, hấp dẫn hơn so với sách, và thực tế chúng đang có xu hướng lấn át văn hóa đọc. Các em học sinh lớp 1 cũng là đối tượng bị thu hút bởi các phương tiện nghe, nhìn như điện thoại, ti vi, máy tính...Các em ít tiếp xúc với các loại sách, truyện dẫn tới sự hạn chế về kỹ năng đọc. - Phương pháp động viên, khích lệ của GV chưa gây hứng thú với học sinh: Các phương pháp động viên, khích lệ của giáo viên như: Khen bằng lời, tuyên dương trước lớp đã không còn thực sự thu hút học sinh. Các em cần được giáo viên khích lệ bằng nhiều hình thức khác nhau. 3. Các biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt 3.1. Củng cố nhận biết mặt chữ cho HS từ những tuần đầu Ngay từ tuần 0, tôi tăng cường cho học sinh luyện đọc bảng chữ cái. Tôi trang bị một bảng chữ cái có màu sắc tươi vui, sinh động và được kết hợp với nhiều hình ảnh quen thuộc tại lớp và cho học sinh đọc hàng ngày. Việc đọc đi đọc lại nhiều lần sẽ giúp các em ghi nhớ được mặt chữ nhanh và lâu hơn. 8 Hình ảnh bảng chữ cái được treo tại lớp để học sinh luyện đọc hàng ngày. Tôi cũng thường xuyên cho học sinh học bảng chữ cái qua bài hát A ă â. Ban đầu tôi mở cho các em vừa nhìn chữ cái trên màn hình vừa nghe và hát theo lời bài hát. Khi các em đã thuộc rồi, tôi cho các em hát vào đầu giờ hoặc khi nghỉ giải lao giữa tiết. Ngoài ra, tôi còn thường xuyên tổ chức các trò chơi để học sinh nhận diện chữ cái. Ví dụ: Trò chơi: Tìm chữ theo hiệu lệnh, săn chữ 3.2. Tạo sự hứng thú trong giờ đọc, viết thông qua khai thác học liệu điện tử (sách điện tử), ứng dụng công nghệ thông tin tạo bài giảng hấp dẫn Qua thực tế giảng dạy, học sinh lớp 1 tiếp thu bài nhanh hơn và hứng thú hơn khi có những hình ảnh trực quan sinh động. Vì vậy, khi dạy các tiết học Tiếng Việt, tôi luôn sử dụng triệt để học liệu điện tử (sách điện tử) từ hanhtrangso.nxbgd.vn, ứng dụng công nghệ thông tin tạo bài giảng hấp dẫn cho học sinh. Tôi sử dụng sách điện tử để giúp học sinh nhận biết âm/vần mới, giải nghĩa từ bằng hình ảnh, cho học sinh xem quy trình viết các chữ 9 Giáo viên khai thác triệt để các hình ảnh trong sách mềm để học sinh có cơ hội quan sát, hiểu nghĩa các từ. Ngoài ra sau khi học sinh tìm được tiếng mới chứa âm/vần đang học, giáo viên kết hợp giải nghĩa các tiếng, từ đó. Việc giúp HS hiểu nghĩa của từ còn được tiến hành bằng cách khai thác tranh ảnh trên mạng internet Ví dụ : Khi dạy bài “ua, ưa” tôi sử dụng sách mềm để học sinh quan sát và nói về nội dung tranh: Mẹ đưa Hà đến lớp học múa. Từ đó học sinh nhận diện âm mới “ua, ưa”. Sang phần luyện đọc từ, tôi đưa tranh để giải nghĩa từ: cà chua, múa ô, dưa lê, cửa sổ Hình ảnh giáo viên sử dụng sách mềm trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 3.3. Xây dựng phong trào văn hóa đọc cho học sinh Sang học kì II, ở môn Tiếng Việt (sách Kết nối tri thức với cuộc sống) có hoạt động đọc mở rộng ở cuối một số bài học. Để các em yêu sách, ham thích đọc sách, tôi giới thiệu cho các em các loại sách chữ, có hình ảnh, nội dung cổ tích, truyện tranh lành mạnh, báo nhi đồng... Sau đó, tôi tổ chức cho các em thi đọc sách và tìm hiểu về sách. Mỗi nhóm sẽ cùng nhau đọc và tìm hiểu về một quyển sách, truyện. Sau đó, các nhóm cử đại diện lên để thuyết trình về quyển sách, truyện của nhóm mình. 10 Nhóm nào thuyết trình hay thì sẽ có phần thưởng từ cô. Tại lớp tôi chủ nhiệm, tôi cũng đã phối hợp cùng phụ huynh học sinh xây dựng thư viện thân thiện ngay trong lớp học. Tôi đã vận động phụ huynh cùng góp vào thư viện lớp những quyển sách, truyện và phân loại, lựa chọn những quyển phù hợp với trình độ đọc, phù hợp với sở thích của các em học sinh lớp 1. Các em học sinh được thoải mái lựa chọn và đọc những quyển sách mình thích vào đầu giờ, các giờ ra chơi hay cuối giờ học. Hình ảnh thư viện thân thiện của lớp Hình ảnh học sinh đọc sách, truyện trong giờ nghỉ giải lao. 11 Ngoài ra, tôi cũng khuyến khích phụ huynh thường xuyên mua sách, truyện cho các con đọc ở nhà để các con phát triển khả năng đọc trơn và đọc hiểu nội dung. 3.4. Đổi mới cách tuyên dương, khen thưởng học sinh Tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi thường xuyên khen ngợi và khích lệ các em học sinh kịp thời khi các em có tiến bộ. Ngoài những cách khen ngợi học sinh bằng lời, tôi còn sử dụng hình thức thưởng Stiker cho HS sau mỗi lần đọc, viết tiến bộ. Tôi lựa chọn những hình Stiker ngộ nghĩnh, phù hợp với sở thích của học sinh. Đây là một phần thưởng mà bất cứ học sinh lớp 1 nào cũng thích và muốn có được. Nhờ đó mà các em không ngừng nỗ lực rèn luyện kỹ năng đọc, viết. Hàng tháng tôi còn gửi thư khen với những học sinh đọc, viết có tiến bộ trong tháng nhằm khích lệ các em. Hình ảnh học sinh nhận thư khen từ cô. Ngoài khen ngợi học sinh trực tiếp trên lớp, tôi còn thông qua nhóm zalo của lớp để đưa những video, hình ảnh học sinh đọc tốt, viết tốt lên tuyên dương. Với cách làm này, tôi thấy các bậc phụ huynh rất phấn khởi và tích cực rèn con hơn nữa. 12 3.5. Duy trì phong trào “Nét chữ nết người” Ngay từ đầu năm học tôi rèn cho các em ngồi học đúng tư thế, thoải mái, tránh gò bó. Hướng dẫn kĩ càng và cho học sinh nắm chắc cách cầm bút, kĩ thuật viết nét nối, rê bút, viết liền mạch. Tôi luôn hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết nhằm giúp học sinh nắm vững cấu tạo chữ, quy trình viết, nắm vững được luật chính tả, Tôi dẫn dắt học sinh tiếp xúc với chữ ghi vần, chữ ghi tiếng sẽ học bằng hệ thống một số câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đang phân tích. Chẳng hạn, khi dạy chữ ghi vần “yêu” chúng ta có thể đặt câu hỏi: Chữ ghi vần “yêu” được cấu tạo bởi các con chữ nào? Nêu độ cao của các con chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút? . Với những câu hỏi khó, tôi định hướng câu trả lời cho các em. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ viết, chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết chữ tiếp theo. Một nhiệm vụ nữa trong hoạt động tập viết là việc đánh giá, nhận xét kết quả bài viết của học sinh. Tôi thường xuyên chữa bài, nhận xét, sửa chữa ngay các lỗi chính tả cụ thể, tỉ mỉ của từng học sinh, đồng thời lưu ý cho các học sinh khác và hướng dẫn cho các em tự đánh giá lẫn nhau để tìm ra lỗi sai của bạn và cùng nhau sửa lỗi. Ngoài ra, hàng tháng, tôi đều tổ chức cho các em học sinh trong lớp thi viết chữ đẹp. Những em học sinh có bài viết tốt sẽ được tuyên dương, khen thưởng. Như vậy, phong trào thi đua viết chữ đẹp của lớp tôi được các em học sinh hưởng ứng nhiệt tình. 13 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả 1.1. Về phía học sinh Qua việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh với những biện pháp nêu trên, giúp cho học sinh lớp tôi đạt được kết quả như sau: Bảng 2. Tổng hợp kết quả khảo sát năng lực ngôn ngữ học sinh lớp 1A6 đầu năm học, cuối học kì 1 và cuối năm học. c Cu i h c kì I Cu c Năng lực ngôn T ng Đầu năm họ ố ọ ối năm họ ổ S S S ng s HS ố T l ố T l ố T l ữ ố HS ỉ ệ HS ỉ ệ HS ỉ ệ Đọc to, lưu loát, 38 12 31,6% 26 68,4% 36 94,7% trôi chảy Viết đúng cỡ chữ, chữ viết 38 15 39,5% 28 73,7% 36 94,7% đều, đẹp. Diễn đạt mạch 38 15 39,5% 22 57,9% 35 92,1% lạc, đủ ý. Biết lắng nghe 38 10 26,3% 26 68,4% 35 92,1% và đặt câu hỏi Theo như bảng số liệu trên, các em học sinh lớp tôi đã có sự tiến bộ rõ rệt về năng lực ngôn ngữ. Các em học sinh tích cực học tập, đọc có nhiều tiến bộ, rõ rệt so với thời điểm đầu năm. Hiện nay có nhiều em diễn đạt ý tốt, đọc theo như ý muốn, đọc diễn cảm, to rõ ràng, phát âm chính xác, chữ viết đều, đẹp. 1.2. Về phía Giáo viên Sau khi triển khai giải pháp “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt” tôi nhận thấy bản thân đã tự học tập, trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Từ những giải pháp hay áp dụng vào giảng dạy và được trao đổi, chia sẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, trường giáo viên mạnh dạn trao đổi học hỏi lẫn nhau để tìm ra vướng mắc cùng tháo gỡ, nâng cao chất lượng giáo dục. 1.3. Về phía phụ huynh Hầu hết phụ huynh học sinh rất nhiệt tình tham gia vào việc kèm cặp 14 học sinh ở nhà. 100% phụ huynh đã kết hợp với giáo viên chủ nhiệm. Qua việc xây dựng các chuyên đề giúp tôi cung cấp tài liệu ôn tập cho học sinh cũng như phụ huynh tham khảo. 2. Ứng dụng Giải pháp “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt” đã được áp dụng cho học sinh lớp tôi trong năm học 2021 - 2022. Ngoài ra, tất cả giáo viên lớp 1 trong toàn tỉnh đều có thể áp dụng những giải pháp này trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh để nâng cao chất lượng giáo dục. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Qua nghiên cứu về lý thuyết và khảo sát thực tế tại lớp chủ nhiệm, tôi nhận thấy việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Bởi khi học sinh có ngôn ngữ tốt, chuẩn mực thì sẽ phát huy tốt việc rèn luyện nhân cách, rèn luyện đạo đức chuẩn mực xây dựng cho bản thân lối sống trong sáng lành mạnh trong xã hội của thời kỳ đổi mới, đồng thời có ngôn ngữ chuẩn mực học sinh sẽ tiếp thu đầy đả những kiến thức từ các môn học khác mà chương trình tiểu học đã cung cấp, qua đó các em sẽ tích luỹ vốn kiến thức cơ bản cho mình để tiếp học học tập lên các cấp học tiếp theo. Chính vì vậy, dạy học tiểu học nói chung, nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 nói riêng là một nhiệm vụ hết sức cần thiết, đòi hỏi người giáo viên phải tận tâm, tận tuỵ, phải thật sự yêu nghề thì nhiệm vụ này mới đạt được những chuẩn mực nhất định. Khi bước chân vào ngưỡng cửa bậc tiểu học các em đã có một ít vốn liếng của Tiếng Việt, các em bắt đầu học chữ, học viết và tập phát âm đúng, chuẩn Tiếng Việt từ đó các em dần dần cảm nhận về những kiến thức cơ bản mà thông qua ngôn ngữ mới có được để từ đó các em mới thấm nhuần ý nghĩa giáo dục, tăng thêm niềm vui, niềm tự hào và tình yêu thiên nhiên, yêu tổ quốc trong mỗi cá nhân các em. 15 2. Kiến nghị 2.1. Đối với nhà trường và các cấp lãnh đạo - Cần thường xuyên mở chuyên đề, tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về việc nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh. - Các cấp lãnh đạo thường xuyên tổ chức các hội thảo, các hội thi giáo viên dạy giỏi để giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. - Tăng cường tài liệu nghiên cứu, sách tham khảo cho giáo viên. 2.2. Đối với giáo viên Khi dạy học nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh tiểu học giáo viên cần lưu ý: - Coi trọng môn tiếng Việt ở nhiều phương diện: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. - Giáo viên cần đầu tư chú trọng nhiều hơn nữa đến môn học này. Vì đây là một môn học chủ lực, môn học công cụ để học tập các môn khác. - Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Ngoài việc rèn học sinh ở lớp, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh luyện viết ở nhà. Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh để có biện pháp giúp đỡ các em rèn luyện ở nhà. Như vậy, trong dạy học môn Tiếng Việt, người giáo viên nên vận dụng những biện pháp và phương pháp thích hợp, phù hợp với học sinh mình để nâng cao hiệu quả bài học cho học sinh. Mặt khác giáo viên cần được trang bị đầy đủ các kiến thức về ngôn ngữ học, cố gắng tìm tòi nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy môn tiếng Việt để từng bước nâng cao tay nghề của mình. Trên đây là một số giải pháp nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 mà tôi đã thực hiện.Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp, chia sẻ của lãnh đạo ngành và các bạn đồng nghiệp để biện pháp giáo dục của mình được hoàn thiện hơn. Trân trọng cảm ơn! 16 TP. Bắc Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT Đỗ Thị Phương Nguyễn Thị Hiển 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. PGS Trương Dĩnh: Phát triển ngôn ngữ cho học sinh phổ thông – NXB Đà Nẵng, 1999 [2]. PGS – PTS Lê Xuân Thại: Tiếng Việt trong trường học – NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1999 [3]. Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học – NXB Đại học Sư Phạm, 2010 [4]. Bùi Mạnh Hùng, Lê Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Vũ Thị Thanh Hương, Vũ Thị Lan: Sách giáo khoa – sách giáo viên Tiếng Việt lớp 1, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống – NXB Giáo dục Việt Nam.
Tài liệu đính kèm:
skkn_phat_trien_nang_luc_ngon_ngu_cho_hoc_sinh_lop_1_trong_d.pdf



