SKKN Phát triển kỹ năng viết chữ đúng, đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học (GV: Phạm Thị Năm)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Phát triển kỹ năng viết chữ đúng, đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học (GV: Phạm Thị Năm)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 1.Lý do chọn biện pháp ..................................................................................... 2 2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 3 1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 3 2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 4 2.1. Thực trạng .................................................................................................. 4 2.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................................ 5 3. Các biện pháp rèn luyện chữ viết đúng,đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học ............................................................................................................. 5 3.1. Phân loại chữ viết theo nhóm, hướng dẫn học sinh viết các nét cơ bản và thuộc bảng chữ cái sớm .................................................................................... 5 3.2. Hướng dẫn học sinh cách nối nét chữ trong một tiếng, quy tắc chính tả, đánh dấu thanh và cách trình bày bài viết sạch sẽ, khoa học .......................... 8 3.3. Khơi dậy hứng thú học tập, tạo động lực cho học sinh mạnh dạn, tự tin để phát triển năng lực của bản thân ...................................................................... 9 3.4. Rút ngắn khoảng cách cô- trò, tạo môi trường học tập thân thiện, gần gũi, đoàn kết trong lớp học .................................................................................... 13 3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy viết cho học sinh lớp 1 ........... 15 III. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ........................................................................... 17 1.Kết quả ......................................................................................................... 17 2. Ứng dụng ..................................................................................................... 18 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 19 1.Kết luận ........................................................................................................ 19 2. Kiến nghị ..................................................................................................... 20 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn biện pháp Tiểu học là bậc học đầu tiên của nền tảng giáo dục đào tạo, là cơ sở ban đầu để hình thành và phát triển đạo đức trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cần thiết, cơ bản của con người Việt Nam. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là giúp trẻ phát triển một cách toàn diện năng lực, phẩm chất.Một trong các kỹ năng giúp trẻ phát triển quan trọng ở bậc tiểu học, đặc biệt với học sinh lớp 1 đó chính là kỹ năng viết chữ. “Nét chữ nết người”- chữ viết giúp hình thành nhân cách, phẩm chất cho trẻ, rèn tính kiên nhẫn, khoa học, thẩmmỹ ngay từ bé. Mong muốn với học sinh lớp 1 là trẻ đọc thông, viết thạo. Đọc thông viết thạo có quan hệ mật thiết với nhau, cũng như dạy tập viết, tập đọc không thể tách rời nhau. Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra yêu cầu rèn luyện học sinh toàn diện về năng lực và phẩm chất, sau khi học tập trở thành những con người năng động, sáng tạo, biết thực hành, vận dụng. Năm học 2021- 2022, tôi được nhận lớp 1A7 tại đơn vị tôi công tác thì nhận thấy khả năng viết chữ đúng và đẹp của học sinh còn rất nhiều hạn chế. Sự hạn chế của kỹ năng này kéo theo chất lượng dạy học không được cao. Chính vì vậy việc phát triển kỹ năng viết đúng, viết đẹp cho học sinh lớp 1 là rất quan trọng, là yêu cầu cấp thiết. Do đó, tôi đã nghiên cứu và tìm ra biện pháp “Phát triển kỹ năng viết chữ đúng, đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học” 2. Mục đích nghiên cứu Phát triển cho học sinh lớp 1 kỹ năng viết chữ đúng, chữ đẹp ngay từ giai đoạn vào đầu năm học, làm cơ sở phát triển kỹ năng viết và năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1. Qua đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 1. 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu các vấn đề lí luận làm cơ sở cho biện pháp. Tìm hiểu thực trạng chữ viết của học sinh lớp 1 trong lớp mình phụ trách và trong trường mình, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.Từ đó, tìm ra các biện pháp hữu hiệu để rèn chữ viết cho học sinh đạt hiệu quả cao. 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp Rèn luyện chữ viết đúng,đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1A7 năm học 2021-2022 tại đơn vị tôi công tác thời gian từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu. Phương pháp điều tra. Phương pháp luyện tập, thực hành Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm Phương pháp quan sát khoa học. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Từ ngàn xưa, trong nền văn hóa của dân tộc, chữ viết đã được ông cha ta rất coi trọng. Không phải ngẫu nhiên mà người ta có những nhận xét: “Văn như Siêu, chữ như Quát” mà đó chính là câu nói được truyền từ đời này qua đời khác để ca ngợi tài năng của con người và cũng là tấm gương cho những thế hệ sau học tập. Hay ta thường dùng thành ngữ “Văn hay chữ tốt” để khen những 4 học trò giỏi và nhắc nhở những học trò chưa giỏi bằng câu: “Văn dai như chão, chữ vuông như hòm”. Rõ ràng chữ viết cũng được coi trọng chẳng kém gì nội dung văn chương. Chữ viết đẹp, dễ xem sẽ gây được thiện cảm cho người đọc.Mặt khác, chữ viết phần nào phản ánh ý thức rèn luyện, óc thẩm mĩ và tính nết của con người. Sinh thời, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người”. Như vậy ta thấy nét chữ thể hiện tính cách con người và thông qua rèn chữ viết để giáo dục tính cách con người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình. Ngày nay, trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin, dù đã có rất nhiều các phương tiện in ấn hiện đại song chữ viết vẫn được coi trọng, dạy chữ cũng là để dạy người. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng Năm học 2021-2022, tôi được phân dạy lớp 1A7.Khi nhận lớp, tôi rất lo lắng vì đa số các em chưa thuộc bảng chữ cái, đồng thời khi viết, những nét cơ bản cũng rất vụng về, khó khăn.Sau một thời gian, viết đến âm, vần, tiếng, từ còn bộc lộ nhiều hạn chế. Qua theo dõi, khảo sát, tôi có thống kê như sau: HS viết đúng HS chưa viết Tổng HS viết đúng HS viết đẹp Nhưng chưa đúng chưa số cỡ chữ, viết nhưng còn sai đẹp, còn tẩy sạch, sai chính HS đẹp, khoa học chính tả xoá tả Số Số Số Số Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ lượng lượng lượng lượng 39 30,8 35,9 6 15,4% 12 7 17,9% 14 % % 5 Kết quả bảng trên cho thấy tỉ lệ học sinh viết chữ đúng, đẹp và thộc bảng chữ cái rất ít.Đa số các em vẫn chưa thuộc bảng chữ cái. Tôi nhận thấy những hạn chế và nguyên nhân của học sinh như sau: 2.2. Hạn chế và nguyên nhân Một số học sinh viết sai quy định về kích thước chữ, sai hình nét cơ bản do các em không nắm được các nét cơ bản và kích thước các nét, các chữ cái. Nhiều em viết chữ, tiếng không đều chữ, nét cứng, gãy do các em chưa cẩn thận luyện nhiều và kĩ năng nối chữ của học sinh chưa khéo; điểm đặt bút, dừng bút chưa đúng; viết không đúng độ rộng con chữ mà còn viết chữ dãn ra hoặc co lại chưa đẹp. Một số học sinh viết chữ ra vở trình bày bẩn, ẩu, vở nguệch ngoạc, chữ xấu, không thành hàng do các em chưa có ý thức khoa học, chưa có thói quen giữ gìn vở và căn ô li, dòng kẻ khi viết. Nhiều học sinh viết sai chính tả do các em chưa nắm được quy tắc chính tả hoặc ảnh hưởng của người thân quen (cha, mẹ, ông, bà, ..) trong cuộc sống hằng ngày. Khi ghép tiếng, từ, câu để viết, nhiều học sinh viết chậm, không viết hết được các tiếng cô giáo đọc do các em chưa thuộc hết bảng chữ cái, âm, vần Tiếng Việt của bài đã học và chưa có hứng thú trong tiết học, chưa thấy có động lực để viết chữ đẹp, học tập tốt. Đồng thời không dám hỏi bạn, hỏi cô khi mình không nhớ, không biết. 3. Các biện pháp rèn luyện chữ viết đúng,đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học 3.1. Phân loại chữ viết theo nhóm, hướng dẫn học sinh viết các nét cơ bản và thuộc bảng chữ cái sớm Khi nhận học sinh từ mầm non vào lớp 1.Ngay từ “hai tuần 0”, tôi đã rà soát về các nhóm học sinh xem đã thuộc bảng chữ cái chưa, còn những em nào 6 chưa thuộc, những nhóm chữ nào. Từ đó, tôi sẽ hỗ trợ giám sát và kiểm tra thường xuyên để các em thuộc được hết bảng chữ cái bắt nhịp cùng lớp. Sau đó, hướng dẫn học sinh viết, ban đầu là viết bằng phấn ở bảng con, cần nắm chắc các nét cơ bản từ chỗ đặt bút đến điểm dừng về độ cao độ rộng làm sao cho học sinh có thể thuộc và cần kiên trì rèn theo từng ngày đặt ra số lượng kiến thức ít để các em có thể hoàn thành tốt. Tôi quan điểm, nếu học sinh viết nét cơ bản không đúng, không đẹp thì việc viết xấu, viết sai là điều không tránh khỏi.Vì vậy, tôi luôn củng cố lại cho các em cách viết các nét cơ bản. Chú ý điểm đặt bút, dừng bút. Ví dụ: với nét khuyết xuôi và nét khuyết ngược, học sinh không được rèn viết ngay từ đầu thì sẽ viết lệch sẽ dẫn đến những chữ được tạo bởi hai nét đó như: h, l, k, g, y, cũng không được đẹp và đây cũng là hai nét khó mà học sinh thường lúng túng khi viết. Tôi hướng dẫn các em chú ý nét khuyết phải tròn, thon đầu, không quá to, cũng không nhỏ quá hoặc không bị vuông đầu và đặc biệt điểm gặp nhau phải ở đường kẻ ngang hai từ dưới lên với nét khuyết xuôi, đường kẻ ngang một với nét khuyết ngược. Hàng ngày giáo viên theo dõi sát sao tiến độ học tập của học sinh, nhận xét, chỉ ra những lỗi của các em. Từ đó yêu cầu học sinh sửa những lỗi sai.Giúp học sinh nhận thức đọc, viết tốt hơn. Giáo viên cẩn thận tỉ mỉ theo dõi những em chưa đạt yêu cầu, có sự hỗ trợ nhiều hơn cho nhóm đối tượng chậm này. Nhận thấy sự chênh lệch của các nhóm học sinh nên tôi đã chia nhóm theo năng lực. Từ đó phát hiện ra nhóm nào có khả năng tiếp cận kiến thức nhanh hơn thì nâng mức nhận thức lên cho các em đỡ nhàm chán. Nhóm chậm hơn, giáo viên dành thời gian hỗ trợ, bổ sung để các em theo kịp được tiến độ của lớp. Bên cạnh đó, một yếu tố rất quan trọng mà tôi thường phát huy đó là đội ngũ những em học sinh có năng lực xuất sắc. Chính những em này sẽ trở thành 7 các giáo viên nhỏ để hỗ trợ, kiểm tra kiến thức cho các bạn trong lớp.Hàng ngày, các em sẽ hỗ trợ để các bạn có thể đọc được, ghép vần và đọc trơn vào những khoảng thời gian đầu giờ, giờ truy bài hoặc giờ ra chơi. Trong giờ học, tôi cũng thay đổi đan xen chỗ ngồi để bên cạnh việc học tập theo nhóm năng lực thì cần hòa trộn các em có năng lực tốt ngồi gần các em có năng lực chậm, giúp đỡ, cộng tác hỗ trợ kiến thức trong quá trình học tập. Bởi nếu các em không đọc được thì không thể viết được. Sau hai tuần 0 làm quen và hai tuần đầu tháng 9, học sinh lớp tôi không còn em nào chưa thuộc bảng chữ cái, đa số nắm chắc các nét, viết bảng con tròn chữ, viết bút chì vào vở cũng đẹp, sạch và hoàn thành nhiệm vụ trên lớp. Kết quả khảo sát như sau: Thuộc bảng Thuộc bảng chữ Không thuộc hết chữ cái, viết nét cái nhưng chưa bảng chữ cái, Thời gian Sĩ cơ bản chuẩn viết chuẩn nét chưa viết chuẩn khảo sát số cơ bản nét cơ bản Số Số Số Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ lượng lượng lượng Trước khi áp dụng 39 12 30,8 % 16 41% 11 28,2% Sau khi áp dụng 39 34 87,2% 5 12,8% 0 0 Qua bảng trên cho thấy các em đã thuộc hết bảng chữ cái và viết lại chữ chuẩn.Chỉ còn 05 em chưa biết chuẩn nét chữ ở một số nét khó như nét khuyết trên, nét khuyết dưới. Những em đó, tôi tiếp tục rèn luyện trong thời gian tiếp theo của năm học. 8 3.2. Hướng dẫn học sinh cách nối nét chữ trong một tiếng, quy tắc chính tả, đánh dấu thanh và cách trình bày bài viết sạch sẽ, khoa học Bên cạnh đó, chữ mẫu của giáo viên khi viết bảng sẽ giúp cho học sinh nắm được thứ tự viết các nét của chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết đúng tốc độ. Ví dụ: Khi dạy học sinh nối chữ, tôi lưu ý nối hai nét móc ở hai chữ cái, cần điều tiết về khoảng cách giữa hai chữ cái sao cho vừa phải, hợp lý để chữ viết đều nét và có tính thẩm mĩ. Ví dụ: an, am khoảng cách giữa a và n hơi hẹp lại, bằng khoảng cách giữa a và i (ai), tránh cách xa quá. Khi viết mẫu tôi thường viết chậm, đúng quy tắc, vừa viết vừa phân tích cho học sinh nắm được.Khi viết mẫu, giáo viên cần tạo điều kiện để cho học sinh nhìn thấy tay của mình viết từng nét chữ. Ngoài ra, giáo viên cần lưu ý chữ viết của mình khi chữa bài, chấm bài của học sinh.Bởi chính chữ của cô sẽ được trò và phụ huynh xem là chữ mẫu. Đồng thời, viết đến tiếng, từ, câu, tôi thường dẫn dắt học sinh tiếp xúc với chữ ghi vần, chữ ghi tiếng sẽ học bằng hệ thống một số câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đang phân tích. 9 Ví dụ: Khi dạy chữ ghi vần “yêu”, chúng ta có thể đặt câu hỏi: “Chữ ghi vần yêu được cấu tạo bởi các con chữ nào? Nêu độ cao của các con chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút? . Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng câu trả lời cho các em. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ viết, chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết chữ tiếp theo. Việc viết chính tả rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quen viết chữ ghi tiếng Việt đúng với chuẩn, đúng quy tắc dấu thanh và viết hoa, quy tắc chữ đặc biệt. Tôi cho học sinh học thuộc luật ghi chính tả theo tình huống, học sinh nắm được: + Viết k với các âm, vần bắt đầu bằng i, e, ê; viết c với các âm, vần bắt đầu bằng các âm còn lại trong bảng chữ cái. + Viết gh, ngh với các âm, vần bắt đầu bằng i, e, ê; viết g, ng với các âm, vần bắt đầu bằng các âm còn lại trong bảng chữ cái. Bởi vậy, các tiết tập viết, chính tả, tôi rất quan tâm tới các em về kiến thức và kĩ năng viết chữ. Không những vậy, với môn học khác, khi học sinh đặt bút viết, tôi yêu cầu rất cẩn thận, tạo thành nền nếp, thói quen: đặt bút là cẩn thận, viết chữ là sạch đẹp, đúng chính tả. Sau một thời gian tích cực rèn luyện, đa số học sinh trong lớp đã nối chữ rất tốt, nắm được quy tắc chính tả, quy tắc đánh dấu thanh và đặc biệt là không còn em nào bị bong vở, trình bày sạch sẽ, khoa học. Không còn học sinh viết chữ gạch xoá, vở không bị quăn mép. 3.3. Khơi dậy hứng thú học tập, tạo động lực cho học sinh mạnh dạn, tự tin để phát triển năng lực của bản thân Trong tiết học nếu giáo viên chỉ chú trọng dạy viết chữ thì tiết học trở nên rất khô khan tạo áp lực cho học sinh.Chính vì vậy tôi luôn chú trọng việc tạo động lực cho học sinh tích cực chủ động và tự tin trong các hoạt động học chữ 10 và viết chữ. Khi học sinh đã mạnh dạn thì có thể thoải mái trao đổi với bạn hoặc hỏi cô những điều mình chưa biết ví dụ điểm bắt đầu điểm kết thúc của các nét chữ hay tiếng từ nào mà các em không nắm được thì các em cũng có thể trao đổi hỏi han bạn. HS trao đổi cặp trong khi viết bảng con Mỗi khi giao nhiệm vụ cho học sinh viết bài hoặc học Tiếng Việt tôi tạo thói quen cho học sinh biết trao đổi chéo kiểm tra cho nhau hoặc hỗ trợ khi bạn gặp khó khăn. Chính vì vậy các cặp đôi cùng bàn luôn có sự hỗ trợ rất tích cực chỉ vài tháng với em đã biết nhận xét cho bạn nêu suy nghĩ của mình về vấn đề cần trao đổi.Các em phát hiện được cho bạn mình có viết được những quy tắc chính tả không hoặc đúng nét biết nối chữ cho đẹp không? 11 Học sinh cộng tác trong tiết Tiếng Việt Để viết các tiếng, các từ hoặc câu, muốn cho học sinh nắm sâu, tôi cũng dành thời gian để học sinh có thể nói lại được cấu trúc từ các chữ cái về độ cao, độ rộng hoặc mỗi tiếng được ghép bởi những âm vật nào để học sinh nắm chắc được kiến thức và kỹ năng vừa đọc tốt vừa viết đẹp. Đồng thời tôi ứng dụng công nghệ thông tin giúp thu hút học sinh, khai thác tối đa tính năng từ các trang web: hoc10.vn hoặc hành trang số. Học sinh thích thú chia sẻ với hình ảnh, video sinh động 12 Điều tạo động lực và hứng thú tốt nhất đó là học sinh được khen mỗi khi các em làm được những nhiệm vụ mà cô giáo giao.Tôi thường động viên cổ động các em chính vì vậy mỗi em đều rất thích cố gắng phát huy tốt để cô giáo khen mình.Với những bạn có năng lượng chậm thì chỉ cần đạt đến mức độ nhẹ tôi đã dành cho các em là cổ động. Ngoài ra, cuối mỗi tháng, tôi thường tặng thư khen cho các em ngoan, có sự tiến bộ vượt bậc. Khi tiết học đã được áp dụng linh hoạt thì thái độ học sinh tham gia học tập cũng thoải mái, vui vẻ hơn.Từ đó, sự chủ động, tự tin, tích cực hợp tác của học sinh trong lớp trở thành tự nhiên và lớp các em luôn vui vẻ trong các tiết học. Nếu như các năm học trước, thông thường hết học kỳ 1, giáo viên mới hướng dẫn học sinh viết chữ nhỏ 1 li nhưng khi áp dụng đề tài, tôi đã mạnh dạn căn vào khả năng, mức độ nhận thức của từng học sinh để hướng dẫn các con viết cỡ chữ 1 li sau 6 tuần thực học. Học sinh tiếp thu nhanh và đã viết được cỡ chữ 1 li theo hướng dẫn của giáo viên tuy vẫn có một số học sinh còn nhầm lẫn 13 về độ cao của con chữ. Qua đó tôi rút ra được một điều là không chỉ theo một khuôn mẫu và kinh nghiệm sẵn có của giáo viên mà phải mạnh dạn, linh hoạt áp dụng những sáng tạo trong quá trình dạy học để phát huy được năng lực của học sinh. Khi tiết học đã được áp dụng linh hoạt thì thái độ học sinh tham gia học tập cũng thoải mái, vui vẻ hơn.Từ đó, sự chủ động, tự tin, tích cực và năng lực của học sinh cũng phát triển. Học sinh viết cỡ chữ nhỏ 3.4. Rút ngắn khoảng cách cô- trò, tạo môi trường học tập thân thiện, gần gũi, đoàn kết trong lớp học Để phát huy năng lực giao tiếp của học sinh, tôi chủ động rút ngắn khoảng cách cô trò bằng cách tạo không khí giao lưu, nói chuyện gần gũi giữa cô và học sinh. Giúp các em cảm nhận được cô giống như người bạn, không cảm thấy lo sợ khi giao tiếp với cô hoặc có cô trong các hoạt động học tập. Ở nhiều hoạt động học, tôi thường đến gần học sinh hơn vỗ vai, động viên các em hoặc ghé sát vào để nhắc các em, cổ vũ các em thêm phấn chấn, yên tâm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến. Tôi thường khuyến khích để các em học sinh thấy được Nếu không hiểu mình sẵn sàng hỏi hoặc sẵn sàng nhờ sự giúp đỡ mỗi lúc ấy Tôi thường động 14 viên khen ngợi sự mạnh dạn của các em khi nhận được lời khen học sinh không còn lo lắng gì cả sẵn sàng tham gia giao tiếp chủ động chia sẻ ý kiến hoặc khó khăn của mình với cô với bạn. Giáo viên gần gũi hỗ trợ học sinh Để tạo môi trường học tập đoàn kết Tôi thường gắn kết các nhóm với nhau có thể chia tổ thường chia làm 6 Tổ và thực hiện thi đua theo tổ theo nhóm nếu nhóm nào cùng làm tốt về văn hóa văn nghệ thể dục thể thao mà cùng có sự tiến bộ bạn nào cũng được tham gia thì nhóm đấy sẽ dành được kết quả cao. Thông qua sự cổ vũ đó mà học sinh tự động hỗ trợ lẫn nhau hoặc sẵn sàng hỏi khi mình chưa hiểu để tất cả thành viên cùng tiến bộ đều. Các em hiểu rằng nếu như chị phát triển lệch một vài bạn thì tổ vào nhóm mình sẽ không dành được chiến thắng. Chính điều đó kích thích và cổ động các em cần có sự đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập và các hoạt động khác; động viên khi học sinh làm việc nhóm; tham gia các CLB lớp: đọc sách, chơi trò chơi ngoài giờ, cùng nhau làm thiệp, cùng nhau trang trí, 15 Học sinh cùng nhau đọc sách, báo trong giờ trải nghiệm đầu tuần Sau vài tháng thực hiện biện pháp thì sự đoàn kết thân thiện của học trò trong lớp đã đạt được hiệu quả cao các em đã rút ngắn khoảng cách, không còn phân biệt và ngại ngần với bạn đặc biệt các em cũng không ngại gì với cô giáo mà sẵn sàng vui vẻ tự nhiên bày tỏ ý kiến của mình.Chính vì vậy các em thích học hơn, không ngại đọc, viết chữ, có sự phấn đấu tích cực, tiến bộ. 3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy viết cho học sinh lớp 1 Năm học 2021-2022 là năm thứ hai lớp 1 thực hiện thay sách giáo khoa theo chương trình GDPT 2018. Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học.Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và công nghệ thông tin là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học nhằm đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên chỉ là người tổ chức các hoạt động, thông qua trực quan sinh động, học sinh tư duy và tự phát hiện tìm ra kiến thức mới của bài học. Bên cạnh đó, tôi thường xuyên khai thác triệt để các úng dụng công nghệ thông minh qua bảng tương tác thông minh như cho học sinhxem phần mềm dạy viết, các clip về tấm gương luyện 16 viết,....Từ những hình ảnh trực quan rõ nét về hướng dẫn viết, học sinh dễ dang ghi nhớ được điểm đặt bút, điểm dừng bút độ rộng các con chữ, cách nối các con chữ trong chữ ghi tiếng hay khoảng cách các chữ. Các em có thể tự quan sát và rút ra kĩ năng viết cho bản thân mình, giáo viên chỉ là người hỗ trợ. GV sử dụng công nghệ thông tin HS hứng thú, tập trung theo dõi Từ đó tôi thấy các em sẽ hiểu bài kỹ và nhớ lâu hơn và chữ viết của các em có tiến bộ rõ rệt. Nhiều em trong lớp viết rất đẹp. Chữ viết của học sinh có tiến bộ, đều và đẹp hơn 17 Để có thể giúp học sinh viết chữ đúng, đẹp và hoàn thiện được các nhiệm vụ học tập trên lớp thì tôi đặt tiêu chí phối hợp chặt chẽ với phụ huynh rất quan trọng. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã điều tra đầy đủ thông tin của học sinh và nắm được đặc điểm, hoàn cảnh của từng em, có sự trao đổi thường xuyên, nhất là với một số học sinh có năng lực chậm, chưa thuộc bảng chữ cái hoặc viết chữ nét còn cứng, nhọn, chưa hoàn thành được nhiệm vụ học tập ở lớp. Sau mỗi buổi, trên nhóm Zalo chung của phụ huynh lớp, tôi thường nhắc học sinh phụ huynh ở nhà rèn thêm cho học sinh một số kỹ năng đọc hoặc một vài phần mà ở trên lớp các em chưa hoàn thành kịp. Riêng đối với những em có năng lực chậm, tôi trao đổi riêng, gọi điện hoặc mời phụ huynh đến gặp để cùng có hướng giáo dục đạt hiệu quả tốt. Được sự phối hợp của phụ huynh học sinh nên việc giáo dục các em cũng trở nên dễ dàng hơn. Có sự chuẩn bị bài từ thì việc tiếp thu kiến thức của học sinh rất hiệu quả. Nhờ vậy mà chỉ sau vài tháng chất lượng chữ viết của lớp tôi đã tiến bộ rõ rệt, phụ huynh cũng cảm thấy yên tâm, luôn ủng hộ, phối hợp giáo dục cùng giáo viên chủ nhiệm. III. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG 1.Kết quả Sau một thời gian ngắn áp dụng những biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp tôi phụ trách, tôi thấy đã có những chuyển biến rõ rệt so với đầu năm như sau: - Chất lượng chữ viết được nâng dần lên rõ rệt, chữ viết của nhiều em đã đúng mẫu, đều nét, rõ ràng. - Học sinh rất có ý thức trau dồi chữ viết, giữ gìn vở khoa học. - Các em thích luyện chữ, hào hứng học tập. 18 * Kết quả kiểm tra chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôi đạt được như sau: HS viết HS viết HS chưa đúng cỡ HS viết đẹp đúng viết đúng chữ, viết nhưng còn Thời Tổng Nhưng chưa sạch, đẹp, khoa sai chính tả gian số HS chưa đẹp sai chính tả học Số Tỉ Số Tỉ Số Tỉ Số Tỉ lượng lệ lượng lệ lượng lệ lượng lệ Trước 15, 30, 17, 35, khi áp 39 6 12 7 14 4% 8% 9% 9% dụng Cuối 79, 12, 7,7 kì I 39 31 5% 5 8% 3 % 0 0 Cuối 92, 5,2 2,6 năm 39 36 2% 2 % 1 % 0 0 Có thể thấy sự tiến bộ rõ rệt ở cuối kì I năm học 2021-2022. Mặc dù vẫn còn một số lượng nhỏ học sinh còn sai vài lỗi chính tả hoặc chữ đã sạch nhưng chưa đẹp. Nhưng đó đã là sự bứt phá của các em. Số học sinh còn lỗi chính tả hoặc chữ chưa đẹp, tôi tiếp tục rèn luyện để tạo kỹ năng cho các em. Chính vì vậy, lớp tôi được nhà trường biểu dương về phong trào vở sạch, chữ đẹp. Đặc biệt về sự tiến bộ của học sinh về kỹ năng viết chữ. 2. Ứng dụng Với kết quả đạt được như trên, tôi đã mạnh dạn trao đổi kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp mình với các giáo viên trong khối và nhận được sự đồng tình ủng hộ cao. 19 Các giáo viên trong khối 1 trường tôi đã áp dụng các biện pháp nêu trên vào việc rèn luyện chữ viết cho học sinh bước đầu có những kết quả đáng khích lệ. Tôi nhận thấy với biện pháp này có thể áp dụng trong các trường tiểu học trong toàn tỉnh và rộng khắp toàn quốc. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận 1.1. Ý nghĩa của giải pháp Như vậy việc phát triển kỹ năng viết chữ đúng, đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học có vai trò rất quan trọng đến việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh ở môn tiếng Việt nói riêng và năng lực toàn diện cho học sinh lớp 1 nói chung. Việc rèn chữ là một hoạt động giáo dục quan trọng đối với học sinh lớp 1. Qua một năm áp dụng tôi thấy rằng với những giải pháp trên không những cải thiện rõ rệt chữ viết cho học sinh mà còn giúp học sinh có nề nếp học tập khoa học hơn. Đồng thời rèn luyện các em nhiều phẩm chất đạo đức như sự cẩn thận, kiên trì và đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau.Viết chữ đúng và đẹp là nền tảng để học tốt các môn học khác trong chương trình lớp 1 cũng như chương trình tiểu học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của lớp của trường. Qua đó, học sinh cũng được rèn thêm tính cẩn thận khi viết bài cũng như học tập các môn học khác. 1.2. Bài học kinh nghiệm Mỗi giáo viên chủ nhiệm cần nhận thấy rèn chữ là nhiệm vụ cần thiết trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bậc tiểu học nhất là đối với học sinh lớp 1 từ đó đặt ra quyết tâm rèn luyện cho học sinh lớp mình có chất lượng chữ viết thật là tốt 20 Rèn luyện chữ viết cho học sinh là một quá trình lâu dài, không nên nóng vội. Cần tôn trọng cá tính của học sinh, đi từ cái dễ đến cái khó, từ cái chưa đạt đến cái đạt được, không đốt cháy giai đoạn dễ gây cho học sinh tính cẩu thả cho học sinh sau này. Cần phân loại học sinh và có kế hoạch rèn học sinh từ đầu năm học để đảm bảo học sinh có thể phát triển ngôn ngữ tốt nhất. Chữ viết của giáo viên phải đẹp, đúng mẫu, đúng chuẩn là một tấm gương để học sinh noi theo. Vì vậy, mỗi giáo viên phải luôn rèn chữ, rèn cách trình bày bảng khoa học. Cần phối hợp rèn chữ cho học sinh ở tất cả các môn học và phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để học sinh không những có năng lực ngôn ngữ tốt mà còn có phát triển các năng lực phẩm chất khác một cách toàn diện. 2. Kiến nghị 2.1. Đối với nhà trường Đẩy mạnh phong trào giữ “Vở sạch chữ đẹp”. Kết thúc mỗi năm học, nhà trường nên giữ lại những bộ vở có chữ viết đẹp để lưu lại phòng Truyền thống của nhà trường làm chuẩn để kích thích phong trào “Vở sạch chữ đẹp” cho năm học tiếp theo. Tăng cường tổ chức các hình thức ngoại khóa thi viết đẹp, viết nhanh để động viên, khuyến khích học sinh luyện viết. 2.2. Đối với Phòng GD&ĐT Tiếp tục duy trì phát động phong trào “Viết chữ đẹp” hàng năm để tạo động lực thi đua. Trên đây là “Một số biện pháp rèn luyện chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 1 ngay từ đầu năm học" mà tôi rút ra ra được trong quá trình dạy học.
Tài liệu đính kèm:
skkn_phat_trien_ky_nang_viet_chu_dung_dep_cho_hoc_sinh_lop_1.pdf



