SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin trong học âm- Vần môn Tiếng Việt lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Hồng - Trường TH Trần Phú, Bắc Giang)

pdf 24 trang Ngọc Ngà 21/03/2026 80
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin trong học âm- Vần môn Tiếng Việt lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Hồng - Trường TH Trần Phú, Bắc Giang)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ 
 BIỆN PHÁP 
 Ứng dụng công nghệ thông tin 
 trong học âm- vần môn Tiếng Việt lớp 1 
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng 
Đơn vị: Trường Tiểu học Trần Phú 
 Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 
 TP. Bắc Giang, tháng 4 năm 2024 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1 
2. Mục đích nghiên cứu đề tài ............................................................................... 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 2 
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu......................................................3 
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài ......................................................................... 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................................ 3 
1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 3 
2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 4 
2.1. Thuận lợi. ....................................................................................................... 4 
2.2. Khó khăn. ....................................................................................................... 4 
3. Các giải pháp ..................................................................................................... 5 
3. 1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần ôn âm, vần cũ ............................ 5 
3. 2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần dạy âm, vần mới ....................... 9 
3. 3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần hướng dẫn viết ....................... 11 
3. 4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần kể chuyện của bài ôn tập ........ 13 
3. 5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần củng cố kiến thức .................... 15 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ........................................................................ 16 
1. Kết quả của sáng kiến ........................................ 16 
2. Ứng dụng ......................................................................................................... 20 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 20 
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 22 
 1 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn biện pháp 
 Tiếng Việt là một môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất 
nước, đặc biệt với lứa tuổi Tiểu học- lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành 
nhân cách và phát triển tư duy. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học 
cách giao tiếp, bày tỏ cảm xúc của mình chính xác, có biểu cảm, có ứng xử phù 
hợp với người thân, bạn bè. 
 Đối với học sinh Tiểu học, phần học vần là nội dung quan trọng bậc nhất 
trong môn Tiếng Việt vì đó là phần học đầu tiên của cấp học. Có nội dung này, 
học sinh mới chiếm lĩnh được công cụ giao tiếp quan trọng là chữ viết ghi âm 
Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có thể học tốt các môn học khác 
và học lên các lớp trên. 
 Năm học 2023-2024 tiếp tục là năm học đổi mới nội dung, chương trình 
đi liền với việc phải đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy 
học đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và công nghệ thông tin là 
một trong những phương tiện quan trọng góp phần tạo lên sự đổi mới của 
phương pháp dạy học. 
 Ngoài việc đổi mới nội dung phương pháp, việc ứng dụng công nghệ thông 
tin vào dạy học còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tính tích cực chủ 
động sáng tạo của học sinh, giúp học sinh được tiếp cận phương pháp dạy học 
mới hấp dẫn, có nhiều cơ hội được chia sẻ ý kiến của mình nhiều hơn. 
 Giáo viên tiết kiệm thời gian ghi bảng và những thao tác khác để tập trung 
thời gian cho việc rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Nội dung và 
hình thức trình bày phong phú, hình ảnh sinh động, hấp dẫn kích thích sự hứng 
thú học tập của học sinh. Các em có thể tự học với sự hướng dẫn của các phần 
mềm học tập, Đó chính là những ưu điểm của việc ứng dụng công nghệ 
thông tin vào trong công tác giảng dạy và học âm- vần. 
 Thực tế cho thấy ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy môn Tiếng 
Việt rất quan trọng đặc biệt là phân môn học âm- vần đối với học sinh lớp một 
giúp các em chiếm lĩnh kiến thức được nhanh nhất, hiệu quả nhất. Nhưng làm 2 
thế nào để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết học đạt hiệu quả cao 
nhất? Đó là một vấn đề không phải người giáo viên nào cũng giải quyết một 
cách hoàn hảo, linh hoạt. 
 Tuy là năm đầu tiên dạy lớp 1 nhưng tôi nhận thấy, học sinh lớp 1 rất thích 
quan sát các hình ảnh sinh động nhiều màu sắc ngộ nghĩnh. Nhưng do đặc điểm 
tâm sinh lí lứa tuổi của mình là khả năng chú ý chưa cao, đang từ hoạt động vui 
chơi chuyển sang hoạt động học tập nên các em còn bỡ ngỡ chưa tập trung lâu vào 
một vấn đề nào đó. 
 Làm thế nào để học sinh học phần âm, vần nắm bắt được các âm- vần 
nhanh hơn, dễ nhận biết và hiểu được ý nghĩa của các từ ngữ trong từng bài 
học âm-vần, biến những tiết học trừu tượng, mất nhiều thời gian thành những 
tiết học yêu thích của các em, giúp học sinh mở rộng vốn từ và phát triển tư 
duy, hình thành kĩ năng giao tiếp biến nó trở thành công cụ để học các môn 
học khác là điều mà bản thân tôi luôn trăn trở, 
 Và đó cũng là lí do tôi đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin 
trong dạy học âm - vần môn Tiếng Việt lớp 1”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Thông qua đề tài nghiên cứu, bản thân tôi muốn thực hiện sự đổi mới phương 
pháp dạy học khi đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng, thiết kế và tổ 
chức các bài học phần âm-vần cho học sinh lớp 1 đồng thời cũng mong muốn góp 
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 
 Bằng chút kinh nghiệm của bản thân, ngoài việc giúp học sinh học tập âm-
vần được dễ hơn, sinh động, hấp dẫn hơn, hứng thú hơn khi chiếm lĩnh kiến thức 
thông qua kênh chữ, kênh hình, các đoạn phim ngắn, các clip về hoạt động tôi 
cũng muốn chia sẻ những kinh nghiệm mình và đề xuất những ý kiến vào việc 
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy âm- vần môn Tiếng Việt lớp 1 để đồng 
nghiệp của mình cùng tham khảo. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Đề tài của tôi xây dựng, nghiên cứu với nhiêm vụ tập trung nghiên cứu việc ứng 
dụng công nghệ thông tin vào các bài giảng trong dạy học âm- vần môn Tiếng Việt lớp 1. 3 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng công nghệ thông trong dạy học âm - 
vần môn Tiếng Việt lớp 1. 
 Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1A2 năm học 2023-2024 do tôi chủ 
nhiệm và được vận dụng cho học sinh khối 1 trong nhà trường. 
 5. Phương pháp nguyên cứu 
 Khi nghiên cứu, xây dựng đề tài này, bản thân tôi đã sử dụng những 
phương pháp sau: 
 - Phương pháp đọc tài liệu. 
 - Phương pháp quan sát. 
 - Phương pháp vấn đáp. 
 - Phương pháp đối chiếu-so sánh. 
 - Phương pháp thu thập chứng cứ. 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 cũng nêu bật mục tiêu 
giáo dục Tiểu học là “giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn 
bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất 
và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng 
đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”. 
 Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 1 mang nét khác biệt hẳn so với các lớp khác 
của bậc Tiểu học bởi các em vừa chuyển từ Mầm non sang học lớp 1, từ “chơi 
và học” chuyển sang “học và chơi”, phải làm quen với môi trường học tập mới, 
phải dành nhiều thời gian học nhiều hơn so với mẫu giáo. Bởi vậy, giáo viên lớp 1 cần 
nắm vững đặc điểm tâm sinh lí học sinh để áp dụng các phương pháp dạy học cho phù 
hợp, cuốn hút học sinh, giúp các em dễ hiểu, dễ đọc, dễ viết và viết đúng, viết tốt, viết đẹp. 
 Hầu hết học sinh lớp một đã biết nghe nói tương đối thành thạo Tiếng 
Việt từ trước khi đi học nhưng ở trường mẫu giáo đại đa số các em mới chỉ làm 
quen với các chữ cái. Lên lớp 1, các em được học ghép âm, vần, tiếng, từ ngay. 
Điều đó đòi hỏi giáo viên cần phải nắm chắc nội dung cũng như phương pháp 4 
dạy học đặc thù để giúp các em thích ứng với phương pháp học mới, nội dung 
mới, nắm được kiến thức mà không quá tải, không quá áp lực với các em. 
 Học hết chương trình lớp 1 là các em phải đọc thông viết thạo. Muốn đạt 
được kết quả đó thì học sinh cần phải nắm chắc và viết đúng các âm- vần. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thuận lợi 
 Trường tôi đã chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện 
Chương trình GDPT 2018: Lớp học đáp ứng yêu cầu chương trình dạy học, các 
lớp 1 đã có ti vi, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ, các học liệu giảng dạy như sách 
giáo khoa, sách giáo viên, sách giáo khoa điện tử đáp ứng cơ bản nhu cầu của giáo viên. 
 Đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa hăng hái nhiệt tình trong giảng dạy có 
tinh thần trách nhiệm và có ý thức học hỏi để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, 
nắm được nội dung chương trình và phương pháp dạy học để có thể chuyển tải 
nội dung chương trình đến học sinh, có trình độ và kỹ năng nhất định về công 
nghệ thông tin. Mỗi giáo viên chúng tôi đều nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát 
sao của Ban giám hiệu nhà trường cũng như tổ chuyên môn. 
 Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình. 
 Đa số học sinh đều chăm ngoan, các em đều đã qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các 
kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào 
học lớp 1, được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập. 
 Hệ thống các bài dạy âm- vần lớp 1 đã được các tác gải viết sách nghiên 
cứu, sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với sự phát triển của học sinh và 
phát huy được vốn kiến thức, năng lực của các em. 
 2.2. Khó khăn 
 Một số giáo viên còn chưa linh hoạt sáng tạo trong ứng dụng công nghệ 
thông tin trong dạy - học. Trong quá trình dạy học, giáo viên chưa biết cách phát 
huy khả năng tự phát hiện của học sinh, chưa tạo được hứng thú học tập ở học 
sinh do bài giảng còn dập khuôn, máy móc, giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu để 
tạo ra những bài giảng hay và hấp dẫn. 5 
 Do phải viết lên bảng các âm, vần, tiếng, từ, câu trong bài nên mất nhiều 
thời gian mà lại chưa gây được hứng thú học tập cho học sinh, thời gian rèn các 
kĩ năng nói, đọc, viết cho học sinh chưa nhiều. 
 Với học sinh lớp 1 việc hiểu nghĩa từ là khó nên nếu sử dụng hình ảnh tĩnh 
để minh hoạ thì học sinh sẽ khó hiểu hơn khi sử dụng những hình ảnh động hay 
đoạn phim thật và cụ thể để minh hoạ. 
 Phần luyện nói và tìm từ mới còn hạn chế vì các em cần những hình ảnh cụ 
thể, dễ hiểu hơn mà sách giáo khoa chưa đáp ứng được. 
 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 1 là khả năng chú ý chưa cao, 
đang từ hoạt động vui chơi chuyển sang hoạt động học tập nên các em còn bỡ 
ngỡ chưa tập trung lâu một vấn đề nào đó. 
 Một số phụ huynh mải đi làm ăn xa chưa có điều kiện quan tâm đến việc 
học của con em mình. 
 Trình độ nhận thức của các em chưa đồng đều nên ảnh hưởng rất lớn đến 
việc tiếp thu bài của học sinh, đến việc vận dụng kiến thức bài học vào thực tế 
như lấy ví dụ về từ chứa âm- vần vừa học, có nhiều hạn chế. 
 3. Các giải pháp 
 3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần ôn âm, vần cũ 
 Trước đây, để kiểm tra kĩ năng đọc các âm- vần của bài trước, giáo viên 
thường phải viết ra thẻ từ hoặc bảng con âm, vần, tiếng hoặc từ để cho học sinh 
đọc làm mất thời gian, không gây hứng thú thì bây giờ, với việc sử dụng công 
nghệ thông tin bằng phần mềm PowerPoint với việc thiết kế màu chữ, hiệu ứng 
thì tôi không phải viết mà chỉ cần trình chiếu âm, vần, tiếng, từ, câu đến đâu học 
sinh đọc đến đấy. Muốn cho học sinh phân tích tiếng hay từ tôi chỉ cần thêm 
hiệu ứng gạch chân dưới tiếng từ đó mà không phải nói nhiều. 
 Ví dụ 1: Bài 10: Ôn tập và kể chuyện, trang 32 được tôi thiết kế như sau: 
Kiểm tra HS âm, từ nào, tôi nhấn điều khiển máy tính thì sẽ hiện ra âm, từ đó. 
Học sinh nhìn âm, từ đọc, giáo viên không phải viết bảng như trước đây nữa. 6 
Hình ảnh giáo viên sử dụng công nghệ thông tin trong phần ôn âm, vần cũ. 7 
 Không chỉ vậy, khi thay đổi theo hướng dạy học tích cực, phần đọc ôn từ 
trong Hoạt động Luyện tập thực hành, tôi có thể dễ dàng thiết kế nhiều trò chơi 
thú vị để ôn lại kiến thức cũ, từ đó dẫn qua bài mới một cách dễ dàng và hiệu quả. 
 Ví dụ 2: Bài 45: Ôn tập và kể chuyện, trang 92, tôi thiết kế phần đọc ôn từ 
trong Hoạt động Luyện tập thực hành qua trò chơi khởi hộp quà bí ẩn như hình dưới: 
 Hình ảnh trò chơi “Hộp quà bí ẩn”. 
 Giáo viên hướng dẫn học sinh cách chơi trò chơi “Hộp quà bí ẩn”. 
 Tôi hướng dẫn các em cách chơi, em chọn hộp quà mình thích ngẫu 
nhiên, tôi nhấn chuột và hiện ra các từ trong mỗi phần quà, các em đọc đúng từ 8 
đó sẽ được khen và nhận một phần thưởng nho nhỏ. Học sinh lầ lượt chọn hộp 
quà bí ẩn, đọc từ cho đến khi các từ được mở hết là kết thúc trò chơi. Với cách 
thiết kế trò chơi này trên PowerPoint này, học sinh tập trung hơn, phần ôn các từ 
ngữ đã học trong tuần hấp dẫn hơn, đạt hiệu quả cao hơn. 
 Ví dụ 3: Trong Bài 7: O o Ô o ., trang 26, tôi thiết kế trò chơi bay lên 
nào. Mỗi khi học sinh đúng một tiếng hoặc một từ thì tôi sẽ bấm vào hình con 
thú mang từ hay tiếng đó để nó bay lên trời. 
 Hình ảnh trò chơi “Bay lên nào” được thiết kế trong bài O o Ô o. 
 Ngoài ra, tôi còn sử dụng trò chơi “Hái hoa”, “Hái táo” để các em cảm 
thấy mới lạ và hứng thú hơn trong các bài học tiếp theo: 
 Ví dụ 4: Bài 9: Ơ ơ trang 30: 
 Hình ảnh trò chơi “Hái táo” được thiết kế trong bài Ơ ơ . 
 Qua trò chơi, chúng ta thấy, mỗi lần học sinh làm đúng theo yêu cầu của 
bài thì sẽ hái được một quả táo. Nếu học sinh không đọc đúng, cơ hội hái táo sẽ 9 
dành cho bạn khác. Đây chính là cách tạo ra tâm thế thoải mái để các em chuẩn 
bị học bài mới Ơ ơ . 
 3. 2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần dạy âm, vần mới 
 Với phần dạy âm - vần mới, giáo viên thường phải ghi lên bảng những âm, 
vần, tiếng, từ nhưng nay dạy đến đâu tôi trình chiếu đến đấy thuận lợi rất nhiều, 
tiết kiệm được thời gian. Mà khi cần giải nghĩa từ ứng dụng, tôi có thể chọn 
được những hình ảnh, đoạn phim cụ thể sinh động mà khi nhìn học sinh hiểu 
nghĩa ngay mà tôi không cần giải thích thêm. 
 Ví dụ 5: Bài 13: U u Ư u, trang 36, tôi thiết kế slide như sau: 
 Hình ảnh thiết kế bài giảng điện tử phần nhận biết bài U u Ư ư. 
 Các hiệu ứng lần lượt như sau: Khi giới thiệu đến âm thì bấm xuất hiện 
âm, giới thiệu đến tiếng thì bấm xuất hiện tiếng, sau đó học sinh đánh vần, phân 
tích tiếng, tìm tiếng chứa âm, 10 
 Thiết kế Powerpoint trong nội dung giới thiệu từ ứng dụng trong bài 13: U u Ư ư. 
 Giáo viên giúp HS hiểu nghĩa của từ ứng dụng trong bài U u Ư ư. 
 Bên cạnh phần mềm Powerpoint là phần mềm được sử dụng rộng rãi, thì 
tôi cũng sử dụng các phần mềm dạy học trực tuyến như Zoom, google meet, 
Zavi để khi cần có thể hỗ trợ học sinh hoặc sử dụng video Zalo hay Messenger 
để có thể tương tác với học sinh, với phụ huynh, phối hợp với phụ huynh rèn các 
kĩ năng nghe- nói- đọc- viết cho các em. 11 
 3. 3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần hướng dẫn viết 
 Khi giáo viên viết mẫu trên bảng sẽ không quan sát được dưới lớp học sinh 
có tập trung vào bài hay không, có thể sẽ bị che khuất tầm nhìn của học sinh. 
Nhưng với việc ứng dụng công nghệ thông tin bằng các vieo hướng dẫn học sinh 
viết âm, vần không chỉ khắc phục được nhược điểm trên mà còn giúp các em 
thấy hứng thú hơn, tập trung hơn khi được quan sát điểm đặt bút, điểm dừng bút 
của chiếc bút chì kì diệu. 
 Ví dụ 6: Bài 34: am – ăm – âm, trang 80: 
 Để hướng dẫn học sinh viết âm, từ mới, tôi cho xuất hiện sile các vần, từ 
học sinh cần viết 
 Tiếp theo, tôi trình chiếu từng video nêu quy trình viết từng vần am, ăm, 
âm để học sinh theo dõi, bước đầu nắm được điểm đặt bút, điểm nối vừa các chữ 
ghi âm, điểm kết thúc của từng chữ ghi vần được dễ dàng hơn. 
 Ảnh chụp màn hình dạy quy trình viết vần am. 12 
 Ảnh chụp màn hình dạy quy trình viết vần ăm, âm. 
 Học sinh quan sát vi-deo hướng dẫn cách viết vần âm. 
 Sau đó, tôi viết mẫu lại trên bảng lớp để học sinh quan sát lại và thực 
hành viết vào bảng. Tôi nhận thấy các em quan sát chăm chú hơn, tập trung hơn, 
viết chữ đẹp và đúng hơn. 13 
 Tôi động viên, khích lệ cũng như giúp học sinh sửa lỗi chưa đẹp từ bài 
làm của mình, của bạn bằng cách chụp bài viết của học sinh, kết nối phản chiếu 
hình ảnh từ điện thoại với ti vi vừa không mất thời gian vừa động viên, sửa lỗi 
kịp thời. 
 Bằng công nghệ thông tin, tôi có thể hướng dẫn học sinh nắm được quy 
trình viết âm, vần, từ của tất cả các bài dạy âm- vần lớp 1. Đặc biệt việc sử dụng 
các video hướng dẫn học sinh viết sẽ phát huy hết hiệu quả khi giáo viên hướng 
dẫn các con quy trình viết các chữ hoa sau này. 
 Ví dụ 7: Quy trình viết chữ h hoa, chữ a hoa cỡ nhỏ hai ly rưỡi. 
 3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần kể chuyện của bài ôn tập 
 Nếu như trước đây việc đính tranh trên bảng, kể chuyện cho học sinh nghe 
không đem lại hiệu quả, mất nhiều thời gian chuẩn bị và sử dụng thì nay bằng việc 
sử dụng những những đoạn phim nhỏ với giọng kể truyền cảm, từ Youtube, học 
liệu số từ hanhtrangso.nxbgd.vn phần kể chuyện sẽ trở nên cuốn hút, hấp dẫn học 
sinh lạ thường, các em sẽ chú ý lắng nghe hơn và nhớ câu chuyện nhanh hơn. 
 Ví dụ 8: Bài 50: Ôn tập có câu chuyện “Bài học đầu tiên của thỏ con”. 
 Tôi đã cho học sinh xem đoạn phim lấy từ học liệu trên trang 
hanhtrangso.nxbgd.vn. Trong đoạn phim, tranh minh họa sử dụng giống SHS 
kèm theo hiệu ứng động kết hợp giọng kể chuẩn. 14 
 Ảnh chụp màn hình câu chuyện “Bài học đầu tiên của thỏ con”. 
Hình ảnh học sinh chăm chú nghe kể câu chuyện được khai thác từ học liệu số. 15 
 Học sinh rất hứng thú, tập trung khi được xem phim và có thể xem lại lần 2, 
lần 3 mà không có cảm giác nhàm chán vì thời lượng không quá dài kết hợp 
hình ảnh đẹp, giọng kể thu hút và hiệu ứng sinh động. Từ đó, các em nhớ nhanh 
nội dung câu chuyện “Bài học đầu tiên của thỏ con”. Học sinh dựa vào tranh minh họa 
có thể tự kể lại một phần câu chuyện hay toàn bộ câu chuyện. 
 3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phần củng cố kiến thức 
 Tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế trò chơi với mục đích 
củng cố kiến thức cho học sinh. 
 Sử dụng phần mềm PowerPoint trong việc xây dựng nhiều trò chơi khác 
nhau kết hợp với các cách xây dựng, sử dụng hình ảnh sẽ tạo tính hấp dẫn cao. 
Trò chơi thường đặt giữa hoặc cuối tiết học. Nó vừa mang lại sự thoải mái, thư 
giãn đồng thời mang tính tổng hợp kiến thức và giảm được cảm giác nặng nề, 
làm cho hiệu quả của bài dạy cao hơn. 
 Ví dụ 9: Sau khi học xong Bài 56: ep êp ip up, tôi xây dựng trò chơi “hái 
táo” Trò chơi này được sử dụng phần củng cố kiến thức bài vừa. Nội dung trò 
chơi như sau: Học sinh chọn một quả táo bất kì, nhấn vào quả táo đó sẽ hiện lên 
chữ cần đọc (đèn pin, búp sen, bìm bịp, ), nhấn vào chữ đã đọc, quả táo vừa 
chọn sẽ biến mất và sẽ hái được một quả táo. 
 Hình ảnh trò chơi “Hái táo” trong bài 56 tôi đã thiết kế. 16 
 Ngoài ra, tôi còn xây dựng rất nhiều trò chơi như “Ong về tổ”, “Nhìn hình 
viết từ”, “Chuyến xe tri thức”, “Giải cứu dòng sông”, “Trò chơi kéo co”, “Hộp 
quà bí mật”, ở các bài học khác nhau tránh gây nhàm chán cho học sinh. 
 Hình ảnh một số trò chơi tôi đã thiết kế khi dạy âm- vần. 
 Hình ảnh một số trò chơi tôi đã thiết kế khi dạy âm- vần. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả 
 Sự áp dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học âm - vần cho học 
sinh lớp 1 do tôi giảng dạy, tôi nhận thấy hứng thú học tập của các em nâng lên 
rõ rệt so với những tuần đầu. Học sinh đã học tập sôi nổi, hào hứng, tự tin hơn 
trong giờ học, tham gia các hoạt động tích cực và chủ động trong suốt tiết học. 
Khả năng nhớ nhanh, đọc tốt và chất lượng học tập có chuyển biến rõ rệt. Kết 
quả thu được qua khảo nghiệm sau khi ứng dụng như sau: 
 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ SỰ HỨNG THÚ CỦA HS KHI HỌC 
NHỮNG TIẾT HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN SAU 8 
TUẦN THỰC HIỆN 17 
 Trước khi thực hiện Sau khi thực hiện 
 Nội dung 
 Số học sinh Tỉ lệ Số học sinh Tỉ lệ 
Không thích 16/34 47% 8/34 23,5% 
Bình thường 8/34 23,5% 4/34 11,8% 
 Thích 6/34 17,6% 11/34 32,35% 
 Rất thích 4/34 11,9% 11/34 32,35% 
Hình ảnh học sinh lớp 1A2 hào hứng giơ tay phát biểu trong một giờ học âm-vần 
 Hình ảnh học sinh lớp 1A2 hào hứng tham gia trò chơi “Hộp quà bí ẩn”. 18 
Sự hào hứng của lớp 1 A2 trong một tiết học vần. 
Sự hào hứng của lớp 1 A2 trong một tiết học vần. 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_hoc_am_van_mon_tieng.pdf