SKKN Nâng cao năng lực ngôn ngữ qua các bài học âm vần Tiếng Việt lớp 1 (GV: Nguyễn Thùy Linh)

pdf 21 trang Ngọc Ngà 18/03/2026 10
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Nâng cao năng lực ngôn ngữ qua các bài học âm vần Tiếng Việt lớp 1 (GV: Nguyễn Thùy Linh)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 
1. Lý do chọn biện pháp .................................................................................................. 2 
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................... 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................. 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 4 
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 4 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 5 
1. Cơ sở lý luận .................................................................................................................. 5 
2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................................. 5 
2.1. Mục tiêu môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ............ 5 
2.2. Yêu cầu cần đạt về nội dung đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1 ........................... 6 
2.3.Thực trạng trước khi áp dụng biện pháp ................................................................ 6 
3. Biện pháp đã áp dụng .................................................................................................. 8 
3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh ghi nhớ âm vần một cách hiệu quả, sáng 
tạo .................................................................................................................................... 8 
3.2. Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy ................................. 10 
3.3. Biện pháp 3: Phát huy tinh thần tự học, tự quản của học sinh .......................... 12 
3.4. Biện pháp 4: Giáo viên chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình xây 
dựng kế hoạch dạy học, tình huống dạy học trên lớp ............................................... 13 
3.5. Biện pháp 5: Thường xuyên trao đổi, liên hệ với phụ huynh học sinh qua 
nhiều kênh thông tin, điển hình là nhóm zalo của lớp .............................................. 15 
3.6. Biện pháp 6: Chủ động các hình thức dạy học phù hợp sẵn sàng ứng phó với 
ngoại cảnh, dịch bệnh xảy ra ....................................................................................... 16 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................... 17 
1. Kết quả khi áp dụng biện pháp ............................................................................... 17 
2. Ứng dụng của giải pháp ............................................................................................ 18 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 18 
1. Kết luận .......................................................................................................................... 18 
2.Kiến nghị ....................................................................................................................... 19 
2.1.Với các cấp lãnh đạo: ............................................................................................ 19 
2.2.Đối với giáo viên: .................................................................................................. 19 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 21 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn biện pháp 
 Để thực hiện đổi mới giáo dục và nhằm nâng cao chất lượng dạy học 
phù hợp với sự phát triển của đất nước hiện nay. Việc đổi mới phương pháp 
dạy học ở tất cả các bậc học nói chung và bậc Tiểu học nói riêng là hết sức 
cần thiết Năm học 2020 - 2021 là năm học đầu tiên Bộ Giáo Dục áp dụng 
chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ở cấp Tiểu học, thực hiện đổi mới 
chương trình ngay từ lớp 1. 
 Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có tầm quan 
trọng nhất. Việc học môn Tiếng việt theo chương trình giáo dục tổng thể năm 
2018 đã thể hiện rất rõ tầm quan trọng của môn học này bởi nó chiếm 420 
tiết/ năm học, chiếm 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học 
bắt buộc. Điều này đã chứng tỏ giáo dục đang thay đổi chương trình và môn 
Tiếng Việt rất được chú trọng. 
 Môn Tiếng Việt ở lớp 1 có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình 
thành bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Trong bốn kĩ năng đó, 
kĩ năng nói, đọc, phát âm chuẩn đặc biệt quan trọng. Nói đúng, đọc đúng sẽ 
giúp chúng ta diễn đạt tốt các vấn đề muốn nói, giúp ta tự tin hơn trong giao 
tiếp. Đối với học sinh lớp 1 nói đúng, đọc đúng gúp các em diễn đạt rõ ràng, 
mạch lạc, viết đúng chính tả và tự tin trước bạn bè. Ngay từ đầu năm học, việc 
học môn Tiếng việt theo chương trình giáo dục tổng thể năm 2018 đã thể hiện 
rất rõ tầm quan trọng của môn học này. Là môn họcó c số tiết nhiều nhất trong 
các môn học ở lớp 1. Bên cạnh đó sách Tiếng Việt bộ sách Kết nối tri thức với 
cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn hình thức cũng như nội dungạy d học so với 
bộ sách giáo khoa trước đây. Mỗi bài học, học sinh phải thực hiện được 5 nội 
dung gồm: Nhận biết, đọc, tô - viết, đọc và nói. Thời lượng thực hiện trong 2 
tiết. Điều này cho thấy khâu đọc rất được chú trọng trong mỗi bài học. 
 Bản thân tôi đã được tập huấn chương trình lớp 1 theo chương trình 
GDPT mới - 2018 nên nắm rõ mục tiêu, quan điểm xây dựng chương trình do 
 3 
đó có sự chủ động trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học 
phù hợp đối với học sinh.Khi nhà trường họp thống nhất lựa chọn bộ sách 
giáo khoa phù hợp để phục vụ công tác giảng dạy năm học 2020- 2021,chúng 
tôi đã nghiên cứu kĩ và lựa chọn sách Kết nối tri thức với cuộc sống làm 
công cụ hỗ trợ để phục vụ mục tiêu giáo dục Tiếng Việt lớp 1 theo chương 
trình tổng thể. 
 Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy học sinh lớp 1 học môn Tiếng Việt 
1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới còn nhiều bỡ ngỡ, tiếp thu kiến thức 
còn gặp rất nhiều khó khăn .Từ nhận thức trên, tôi đã suy nghĩ trăn trở rất nhiều: 
Phải làm sao đây để cho các em có được kĩ năng đọc tốt và tôi quyết định chọn 
biện pháp “Nâng cao năng lực ngôn ngữ qua các bài học âm vần Tiếng Việt 
1” để nghiên cứu với mong muốn tạo thêm hứng thú và nâng cao chất lượng học 
tập cho các em, giúp phát huy được năng lực của mình. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Qua nghiên cứu thực trạng học sinh trong lớp với việc đề ra một số 
biện pháp giáo dục đem lại hiệu quả, vận dụng kinh nghiệm với kết hợp các 
biện pháp giáo dục đã có nhằm củng cố kinh nghiệm giảng dạy của bản thân. 
Qua đó thấy được những tồn tại trong giảng dạy môn Tiếng Việt về việc rèn 
đọc, phát âm cho học sinh. 
 - Nâng cao chất lượng, kỹ năng phát âm chuẩn cho học sinh. 
 - Đưa ra một số phương pháp giúp học sinh phát âm đúng; đọc lưu loát 
trôi chảy, đọc diễn cảm . 
 - Để có cơ hội trao đổi học hỏi về đổi mới phương pháp rèn luyện phát 
âm chuẩn cho học sinh. 
 Sáng kiến được áp dụng đối với môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1. 
Giúp giải quyết được vấn đề giúp học sinh học tốt phần âm môn Tiếng Việt 
lớp 1, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề lí luận làm cơ sở khoa học cho việc 
 4 
thực hiện đề tài. Tham khảo, vận dụng có chọn lọc kết hợp những kinh 
nghiệm của bản thân áp dụng vào tình hình thực tế lớp mình đảm nhiệm từ đó 
rút ra những biện pháp giáo dục tích cực đối với học sinh trong việc rèn kĩ 
năng đoc, phát âm cho các em. 
 Quan trọng hơn đây là năm thứ hai giáo viên cũng như học sinh lớp 1 
được làm quen với chương trình mới, làm quen với sách giáo khoa mới nên 
vẫn còn nhiều bỡ ngỡ trong việc hình thành phát triển năng lực, phẩm chất 
cho học sinh lớp 1. Do đó, việc giúp các em học sinh lớp 1 học tốt phần âm 
vần môn Tiếng Việt lớp 1 là rất cần thiết. 
 Đây là biện pháp tôi bắt đầu áp dụng trong năm học này góp phần tích 
cực không chỉ vào nâng cao chất lượng học phần âm môn Tiếng Việt cho học 
sinh mà còn góp phần giúp các em mạnh dạn, tự tin, có nền tảng tốt để học 
các môn học khác trong chương trình lớp 1.Đồng thời lan tỏa biện pháp mà 
mình đã áp dụng vào khối lớp mình dạy cũng như với đồng nghiệp của mình. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 qua các 
bài học âm, vần môn Tiếng Việt lớp 1. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Tất cả học sinh lớp 1 năm học 2021-2022 
 - Thời gian: Từ tháng 09 năm 2021 đến tháng 03 năm 2022; 
 - Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học tôi công tác 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng những phương pháp sau: 
 - Phương pháp quan sát khoa học. 
 -Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết. 
 - Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin. 
 - Phương pháp thực hành. 
 5 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Từ những yêu cầu đổi mới của chương trình Tiểu học đòi hỏi phải đổi 
mới chương trình môn Tiếng Việt.Theo định hướng chương trình Tiểu học 
GDPT 2018 thực hiện đổi mới đồng bộ về: Mục tiêu giáo dục- Nội dung 
phương pháp giáo dục- Cách đánh gía học sinh.Theo đặc trưng của môn 
Tiếng Việt là tập trung vào hình thành và phát triển kỹ năng : đọc- viết- nói- 
nghe góp phần hình thành các năng lực: Năng lực tự học và giải quyết vấn đề, 
tự chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng thực hành kiến thức đó theo năng lực 
của bản thân.Như đã biết môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình 
thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, năng lực ngôn ngữ đó được 
thể hiện qua các hoạt động : việc nắm chắc âm vần để đọc tốt là đặc biệt quan 
trọng vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kĩ năng “đọc- viết- nói- 
nghe ’một kĩ năng quan trọng của bậc Tiểu học, đồng thời còn làhìa c khóa 
phương tiện để tiếp nhận nhiều tri thức.Chỉ khi đọc tốt các em mới hiểu và 
yêu thích Tiếng việt,từ đó giúp học tốt các môn khác nữa.Cũng như các môn 
học khác lấy học sinh làm trung tâm thì môn Tiếng Việt cũng như vậy. đòi 
hỏi giáo viên luôn phải đổi mới phương pháp nhằm thu hút học sinh vào bài 
học,linh hoạt chuẩn bị nhiều tình huống bài học phong phú cho học 
sinh.Trong chương trình môn Tiếng việt lớp 1, các bài học đã được lựa chọn 
kĩ giúp học sinh phát huy năng lực của mình qua đó bồi dưỡng tình yêu với 
môn học, với con người thiên nhiên và đất nước Việt Nam. 
 Bản thân tôi khi nghiên cứu biện pháp này với mong muốn khi áp dụng 
sẽ giúp học sinh hoc tập tốt hơn, từng bước nâng cao năng lực đọc, viết, nâng 
cao năng lực tự học sáng tạo, tự tin khi giao tiếp nhằm góp phần hình thành 
nhân cách toàn diện, phát triển toàn diện về “đức- trí- thể- mĩ” cho học sinh. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Mục tiêu môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 
 Học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu 
 6 
hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội 
nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành h;mạn có hứng thú học 
tập, ham thích lao động có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia 
đình, xã hội và môi trường xung quanh. 
 Học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực 
ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc 
đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; 
 Phát triển năng lực văn học ,biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được 
vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước 
cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong 
các văn bản văn học. 
 2.2. Yêu cầu cần đạt về nội dung đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1 
 Căn cứ vào mục tiêu , yêu cầu cần đạt mà chương trình tổng thể đưa ra. 
Kết hợp quá trình nghiên cứu, lựa chọn các loại sách giáo khoa phù hợp để 
phục vụ giảng dạy. Trường chúng tôi đã lựa chọn Sách Tiếng Việt Kết nối tri 
thức với cuộc sống do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn và in ấn 
bởi một số đặc điểm sau: 
 Quan niệm chung về SGK Tiếng Việt mới: 
 - Làm cho việc học ngôn ngữ hấp dẫn và thú vị, giúp HS phát triển hiệu 
quả năng lực ngôn ngữ. 
 - Dạy học qua các hoạt động giao tiếp tự nhiên và gần gũi với đời 
sống.Bài học có sự tích hợp kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. 
 - Tích hợp giáo dục ngôn ngữ với các nội dung giáo dục khác giúp học 
sinh phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung . 
 2.3.Thực trạng trước khi áp dụng biện pháp 
 - Khi thực dạy qua quan sát cùng quá trình giảng dạy trên lớp tôi đã thu 
được kết quả như sau: 
 7 
 S HS 
 S HS ố
 S HS ố t Còn 
 ố phát Đạ
 phát âm Đạt % nhẫm Đạt 
 LỚP TSHS âm Ghi chú 
 chuẩn, % lẫn vần, % 
 c t t chưa d u 
 đọ ố chu n ấ
 ẩ thanh 
 Chưa áp 
 Tháng 
 dụng biện 
 10/2021 37 19 51,3 11 29,7 7 18,9 
 pháp 
 2.3.1.Thuận lợi 
 - Về giáo viên: 
 Được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo về chuyên môn, tổ 
chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về chương trình GDPT 2018, tổ chức 
thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề, học tập 
trường ban và thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề 
xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy. 
 - Về học sinh: 
 Học sinh có đầy đủ SGK và đồ dùng học tập. ngoan ngoãnhấp c hành 
nề nếp học tập. 
 Vì là vừa từ mầm non hoạt động vui chơi chuyển sang hoạt động học 
tập nên các em luôn được phụ huynh quan tâm và tạo mọi diều kiện học tập. 
 2.3.2.Hạn chế gặp phải trong quá trình giảng dạy 
 - Cách phát âm, đọc âm khác so với chương trình hiện hành, một số em 
còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn. Một số học sinh tích cực học tập nhưng bên 
cạnh đó còn có một số học sinh chưa tích cực, ở một số tuần học đầu tiên còn 
khó khăn trong việc đọc âm, vần. Học sinh đọc và hiểu tiếng, từ còn hạn chế. 
 - Chưa phát huy được năng lực của học sinh qua từng bài học. 
 - Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong mỗi bài học, chủ yếu vẫn dạy 
theo phương pháp thuyết trình. 
 - Xuất phát từ những thực trạng, hạn chế nêu trên ngay từ đầu năm học 
tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu biện pháp “ Nâng cao năng lực ngôn ngữ qua 
 8 
các bài học âm vần môn Tiếng Việt,với mong muốn các em có kĩ năng đọc, 
viết tốt hơn, vận dụng vào các môn học khác và thực hành tốt kĩ năng giao 
tiếp trong cuộc sống. 
 3. Biện pháp đã áp dụng 
 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh ghi nhớ âm vần một cách hiệu 
quả, sáng tạo 
 Sau mỗi tiết học vần tôi thường trăn trở suy nghĩ các em đã học được gì, 
cần chú trọng và lưu ý điều gì để tiết học sau vận dụng hiệu quả hơn.Qua thực tế 
giảng dạy học sinh lớp 1 tiếp thu bài học thường gắn với hành động trực quan 
sinh động, những hình ảnh cụ thể. Phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu 
hút học sinh vào bài học, giúp học sinh dễ ghi nhớ dễ thuộc hơn. 
 3.1.1.Kết hợp sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học vần 
 Tâm lý lứa tuổi Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 kiến thức được hình 
thành chủ yếu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nếu các em được 
quan sát qua tranh ảnh, vật thật thì sẽ dễ dàng ghi nhớ kiến thực hiệu quả hơn. 
 Vì vậy, khi dạy học sinh phát âm, tôi đã kết hợp sử dụng nhiều phương 
pháp, vừa nhìn (quan sát) kết hợp với nghe rồi làm theo mẫu và luyện tập thực 
hành ngay trên lớp. Trong quá trình dạy học giáo viên cần sử dụng đồ dùng trực 
quan để hướng dẫn các em quan sát, so sánh Ngoài hình nhả trong sách Tiếng 
Việt ra thì giáo viên cần phát huy tốt môi, miệng, lưỡi, răng của giáo viên khi 
dạy các em phát âm. 
 Các tấm thẻ nhỏ in hình các loại quả có chứa âm, vần, tiếng 
 9 
 3.1.2.Khuyến khích học sinh sưu tầm mẫu vật thật 
 Tôi thường khuyến khích học sinh sưu tầm mẫu vật mà xung quanh cuộc 
sống của các em có .Chẳng hạn khi dạy bài vần ia, tôi dặn học sinh sưu tầm lá 
tía tô mang đến. Học sinh rất thích thú, tích cực quan sát tiếng từ trên bảng kết 
hợp từ vật thật.Việc ghép vần trên thanh cài, đánh vần ia rất thuận lợi học sinh 
dễ ghi nhớ vần hơn. 
 3.1.3.Kết hợp thao tác bộ đồ dùng thực hành Tiếng Việt trong dạy học vần 
 - Khi dạy học vần sử dụng bộ đồ dùng Tiếng Việt học sinh rất hào hứng 
bởi trong đó có đầy đủ chữ cái, dấu thanh, vần, hình thức đẹphù p hợp tâm lý 
học sinh lớp 1 đây là dịp học sinh khoe tài năng nhận diện mặt chữ, ghép âm 
vần.Việc sử dụng bộ đồ dùng trong dạy học học vần là nhu cầu cần thiết, tăng 
thêm hứng thú cho học sinh khi các em được tự tạo ra các sản phẩm do chính 
mình tạo ra, cùng với sự động viên khích lệ của bạn, của giáo viên các em sẽ 
có niềm vui trong học tập. 
 - Ví dụ khi dạy bài vần ua, ưa , sau khi giới thiệu vần, học sinh tự suy 
nghĩ và vận dụng ghép vần vào bảng gài.Tôi sẽ lấy luôn thanh gài của học 
sinh làm mẫu để minh họa do chính mình làm.Theo cách này học sinh sẽ phát 
huy năng lực học sinh, giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn. 
 Hình ảnh học sinh tương tác, hỗ trợ bạn ghép vần 
 10 
 3.2. Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy 
 - Hiện nay, với sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, học sinh được làm 
quen ngay từ lớp 1 với ti vi, công nghệ thông tin. Để giúp học sinh lớp 1 đọc 
đúng cách, tạo cho cảm thấy các con chữ này thật sự dễ dàng và hứng thú để 
thu hút học sinh thực hành .Vì vậy ngay phần Làm quen của phần âm môn 
Tiếng Việt bộ sách Kết nối tri thức tôi đã cho học sinh quan sát kĩ hình ảnh 
minh họa có trong sách mềm và tiếng có chứa âm mới để trẻ nhớ được các 
phát âm. 
 - Dạy âm vần cho học sinh lớp 1 không chỉ dạy cho các em đánh vần, 
đọc trơn các tiếng, từ chứa âm vần đó mà bước uđầ còn cần giải thích ngắn 
gọn để các em hiểu nghĩa của các từ này. Đồng thời việc hiểu nghĩa của từ 
ngữ sẽ giúp các em đọc đúng và viết đúng chính xác các từ đó.Vì vậy, khi dạy 
âm và chữ cái, dạy vần, dạy tiếng, từ ứng dụng và đọc câu thì giáo viên cần 
quan tâm cung cấp nghĩa của tiếng cũng như từ ứng dụng. Học sinh có hiểu 
được nghĩa thì các em mới dễ nhớ; đọc đúng, viết đúng, nắm chắc chắn được 
các vần, tiếng đã học. 
 Hình ảnh giáo viên và học sinh tương tác với ti vi thông minh 
 - Việc cung cấp nghĩa của từ có thể tiến hành dưới nhiều hình thức. Cho 
học sinh quan sát vật thật qua các đồ vật có sẵn trong lớp học hoặc hình ảnh 
để minh họa nghĩa của từ. 
 11 
 - Ví dụ: Khi dạy bài vần ep: 
 - Giáo viên khai thác triệt để hình ảnh các tranh trong sách mềm để học 
sinh có cơ hội quan sát, hiểu nghĩa các từ. Ngoài ra sau khi học sinh tìm được 
tiếng mới có âm, vần hôm nay học giáo viên kết hợp giải nghĩa từ các tiếng, 
từ đó.Việc giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn được tiến hành bằng cách khai 
thác tranh ảnh trên mạng internet 
 - Ví dụ: Khi dạy bài vần uôt: 
 Thông qua trò chơi ‘ Vần gì đã biến mất” , tôi ứng dụng phần mềm trò 
chơi học sinh quan sát và phát hiện từ nào đã bị ẩn đi và tìm ra vần ,âm 
đó.Học sinh nào nói đúng, nhanh tên vần đã biến mất thì sẽ chiến thắng và 
được khen ngợi. 
 Trò chơi:” Tên mình chứa vần gì?” 
 Học sinh đọc, đánh vần tên mình và hỏi bạn trong tiếng cóên t đó chứa 
vần gì và yêu cầu bạn đọc lại vần vừa tìm được. 
 12 
 3.3. Biện pháp 3:Phát huy tinh thần tự học, tự quản của học sinh 
 - Rèn cho học sinh có năng lực tự học, tự thực hiện nhiệm vụ là góp 
phần phát triển năng lực chung của học sinh. Bản thân tôi cũng phải rất kiên 
trì để hình thành các năng lực đó cho học sinh. Trong dạy phát âm cho học 
sinh, khi các em phát âm chưa đúng,tôi yêu cầu các em đọc lại nhiều lần mà 
vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, 
bạn bên cạnh sẽ hướng dẫn, làm mẫu và làm lại cùng bạn.Đồnghời t các bạn 
trong lớp thường xuyên động viên khích lệ bạn bằng những lời khen, được 
động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì nghĩ rằng mình sẽ làm 
được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ làm được từ đóhọc 
sinh sẽ quyết tâm hơn. Ngoài việc học trong lớp các em xuống phòng thư viện 
nhà trường để tìm hiểu , nhìn các loại sách truyện từ đó giúp các em nhìn và 
ghi nhớ âm, vần giúp cho việc học hiệu quả hơn. 
 Hình ảnh phụ huynh gửi khi các con tự giác học bài ở nhà 
 - Việc rèn đọc của học sinh không chỉ diễn ra khi có sự hướng dẫn của 
giáo viên hoặc phụ huynh. Bằng việc phát huy tinh hầnt tự quản của Ban cán 
sự lớp, tôi hướng dẫn học sinh cách tự rèn đọc vào giờ truy bài hoặc những giờ 
giải lao. Trên bảng lớp, tôi gắn bảng âm, vần các em đang học, bạn lớp trưởng 
hoặc các bạn ngồi cùng nhau sẽ hướng dẫn các bạn trong lớp, trong bàn ôn lại 
các âm, vần đã học. Ngoài ra tôi thường tổ chức cho các em hoạt động theo 
nhóm để tăng khả năng tương tác hỗ trợ giúp đỡ nhau trong tiếp thu chiếm lĩnh 
kiến thức tùy theo đặc điểm tình hình mà tổ chức các nhóm cho phù hợp. Việc 
 13 
làm này giúp học sinh tự rèn thêm cho mình năng lực tự quản, ý thức tự giác 
trong học tập và giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn rongt học tập. 
 3.4. Biện pháp 4: Giáo viên chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong quá 
trình xây dựng kế hoạch dạy học, tình huống dạy học trên lớp 
 3.4.1.Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực 
 Trong quá trình dạy học giáo viên bám sát các yêu cầu cơ bản về phương 
pháp dạy học theo SGK Kết nối tri thức với cuộc sống, vận dụng linh hoạt và 
sáng tạo theo tình hình lớp mình. Tìm hiểu kĩ về đặc điểm học sinh, về tâm lý, 
thể chất, hoàn cảnh gia đình để dạy học và giao nhiệm vụ học tập phù hợp: 
 - Đối với lớp tôi phụ trách, giai đoạn đầu năm học, tôi điều chỉnh giảm 
yêu cầu cần đạt ở một số kĩ năng. Cụ thể đổi với kĩ năng đọc, chỉ yêu cầu các 
em đọc được từ ngữ có chứa âm, chữ, vần mới.Khi dạy học vần, mỗi một hoạt 
động dạy tôi đều lựa chọn hình thức phù hợp . Chẳng hạn hoạt động giới thiệu 
bài , nhận diện âm vần,thì tôi dạy học cả lớp,khi luyện đọc viết âm vần thì tôi 
sử dụng hình thức nhóm và cá nhân.Bên cạnh đó tôi còn sưu tầm bảng vần 
cho phụ huynh giúp con luyện đọc tại nhà để khi đến học ở thực tế trên lớp 
sác con đã có thể khắc sâu, nhớ chắc vần và đọc trơn tốt bài hôm đó. 
 - Trong dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng,tôi 
yêu cầu các em đọc lại nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán 
nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, tôi đã kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu 
cầu học sinh phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh 
bằng những lời khen, được động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì 
nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ 
làm được từ đó học sinh sẽ quyết tâm hơn. Trong số những học sinh phát 
âm sai, có một phần nhỏ học sinh do lười biếng, không muốn rèn luyện mình 
nên chỉ phát âm một cách nhanh chóng, đại khái cho xong, dần dần thành 
quen nên phát âm không chuẩn xác. Với những em học sinh này, tôi vừa 
nghiêm khắc vừa mềm mỏng để các em thấy rằng mình có khả năng học tập 
rất tốt, mình cần phải thể hiện hết khả năng của mình. 
 14 
 3.4.2.Đổi mới cách đánh giá học sinh 
 Đánh giá học sinh Tiểu học là quá trình thu thập, xử lý thông tin thông các 
hoạt động theo dõi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập rèn luyện của học 
sinh để tư vấn, hướng dẫn và động viên học sinh để rèn luyện, hình thành phát 
triển một số phẩm chất, năng lực của học sinh Tiểu học. Đặc biệt đối với học 
sinh lớp 1 mới làm quen với môi trường tiểu học, tâm lý các em thích được 
khen các em sẽ hứng thú hào hứng trong việc học. Do đã được tập huấn 
nghiên cứu về Chương trình GDPT 2018 nên trong từng tiết học, tôi đã chú ý 
nhận xét khích lệ học sinh bằng lời nói, nhận xét qua các năng lực cốt lõi và 
phẩm chất cần đạt của môn học. Bên cạnh đó tôi còn trao đổi cùng phụ huynh 
cách đánh giá học sinh để cùng phụ huynh đánh giá hoạt động học tập của con 
em mình nhờ đó việc học tập được nâng lên cao hơn. 
 Theo Thông tư 27 khen ngợi học sinh để động viên, khích lệ giúp đỡ các 
em học tập và rèn luyện. Hàng tháng tôi cũng tổ chức bình chọn bằng hình 
thức biểu quyết chọn ra những bạn có nhiều cố gắng và có nhiều tiến bộ để 
khen. Tôi làm những tấm thiệp khen động viên học sinh gửi về gia đình, gửi 
lên nhóm zalo của lớp,phụ huynh cũng phấn khởi, hào hứng động viên học 
sinh. Dù những phần thưởng đó không có giá trị vật chất nhưng nó lại mang 
giá trị tinh thần rất lớn để động viên học sinh có hứng thú phấn đấu trong học 
tập. Qua thực hiện tôi thấy học sinh thi đua học tập rất tốt. 
 15 
 3.5. Biện pháp 5: Thường xuyên trao đổi, liên hệ với phụ huynh học 
sinh qua nhiều kênh thông tin, điển hình là nhóm zalo của lớp 
 Trong giáo dục muốn đạt hiệu quả thì cần phối hợp giữa nhà trường, gia 
đình và xã hội, trong đó cha mẹ học sinh đóng góp một phần rất quan trọng. 
Hiện nay, sự phát triển về công nghệ số, đa phần phụ huynh đều sử dụng 
mạng xã hội, tận dụng điều đó tôi có nhiều điều kiện hơn để trò chuyện với 
phụ huynh về việc học của con cũng như cách giáo dục con khi ở nhà. Là một 
giáo viên, bản thân cũng là một phụ huynh, khi trao đổi có nhiều phụ huynh 
có cách làm hay tôi cũng cần học hỏi và áp dụng với con mình. Ngoài các 
kênh thông tin để trao đổi với phụ huynh như: sổ liên lạc điện tử, gọi điện 
thoại, gặp trực tiếp,... Tôi đã lập một nhóm zalo của lớp để tất cả phụ huynh 
trong lớp có thể trao đổi, chia sẻ những khó khăn hay những cách làm hay để 
giúp con tiến bộ hơn trong học tập. Nhiều phụ huynh có những băn khoăn, 
thắc mắc về cách đọc, đánh vần một số âm, vần, vì điều kiện không đến gặp 
trực tiếp giáo viên để hỏi thì có thể chụp hình ảnh âm, vần,hoặc quay lại video 
cách đọc của con để gửi cho giáo viên để được giải đáp. 
 Hình ảnh phụ huynh hướng dẫn con học bài ở nhà 
 16 
 3.6. Biện pháp 6: Chủ động các hình thức dạy học phù hợp sẵn sàng 
ứng phó với ngoại cảnh, dịch bệnh xảy ra 
 Trong thời gian vừa qua, thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống 
dịch bệnh Covid-19 lây lan, với phương châm của Bộ Giáo dục và Đào tạo 
“tạm dừng đến trường, không dừng học” tôi đã tìm tòi và hướng dẫn phụ 
huynh sử dụng phần mềm Zoom, Team để phục vụ cho việc học tập của các 
con khi ở nhà. Bằng hình thức này, khi không được đến trường học sinh vẫn 
được tham gia chia sẻ với bạn, với cô và đặc biệt nhận được sự quan tâm, ủng 
hộ nhiệt tình từ phía phụ huynh. Tôi nhận thấy sự quan tâm của phụ huynh 
đến việc học của con em mình tốt hơn, bởi lẽ khi các con học trên lớp chỉ có 
cô và trò, bố mẹ không được trực tiếp xem con học như thế nào trong lớp. 
 Khi áp dụng biện pháp này, khi cô giảng bài thì cả phụ huynh và học sinh 
đều được tham gia, có những vấn đề nào chưa rõ, chưa hiểu phụ huynh có thể 
hỏi và giáo viên giải đáp ngay; không chỉ mang lại về mặt kiến thức mà còn 
giúp các em rèn luyện kỹ năng sống: lắng nghe người khác nói, tính tự lập (đến 
giờ học trực tuyến là các em tự giác ngồi vào bànc). họ Như vậy việc học khi ở 
nhà của học sinh vẫn được duy trì thường xuyên vàang m lại hiệu quả. 
 17 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả khi áp dụng biện pháp 
 Sau nhiều tuần thực dạy và áp dụng những biện phát nêu trên rongt mỗi 
tiết dạy Tiếng Việt, tôi đã thấy các em phát âm, đọc có tiến bộ rõ rệt. Như vậy 
là một tín hiệu mừng, chứng tỏ những biện pháp tôiáp dụng là có hiệu quả cao. 
 Bảng đánh giá sau khi tôi áp dụng biện pháp: 
 S HS 
 S HS ố
 S HS ố t Còn 
 ố phát Đạ
 phát âm Đạt % nhẫm Đạt 
 LỚP TSHS âm Ghi chú 
 chuẩn, % lẫn vần, % 
 c t t chưa d u 
 đọ ố chu n ấ
 ẩ thanh 
 Chưa áp dụng 
 Tháng 37 19 51.3 11 18,9 
 10/2021 29,7 7 biện pháp 
 Đã áp dụng 
 Tháng 37 24 64,8 8 13,5 
12/2021 21,6 5 biện pháp 
 Đã áp dụng 
 Tháng 37 28 75,6 5 10,8 
 2/2022 13,5 4 biện pháp 
 Đã áp dụng 
 Tháng 37 35 94,5 2 5,4 0 0 
 5/2021 biện pháp 
 Qua quá trình áp dụng các biện pháp trên, tôi thấy tình hình học tập của 
học sinh đã phát triển tích cực. Đa số các em nắm chắc cấu tạo âm vần, giúp 
đọc tốt hơn chữ viết đẹp hơn, trong quá trình giao tiếp và học tập học sinh 
mạnh dạn và tự tin hơn phát huy được năng lực tự học của mỗi học sinh. 
Thông qua việc rèn đọc để hình thành nhân cách, đức tính cẩn thận, tác phong 
nhanh nhẹn cho học sinh từ đó các em biết vận dụng trong ọch tập và kĩ năng 
sống hàng ngày.Tôi cũng tích c cự học tập, trau dồi chuyên môn trong quá 
trình giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng, tham khảo các 
nguồn học liệu để giảng dạy, quan tâm đến từng đối tượng học sinh để kịp 
thời giúp đỡ động viên học sinh, tạo không khí vui tươi trong học tập, linh 
hoạt trong phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để phù hợp với các đối 
tượng học sinh. 
 18 
 Năm học 2022-2023 đã bắt đầu, tôi tin tưởng rằng với biện pháp nêu trên 
sẽ góp phần một phần nhỏ nâng cao chất lượng của môn Tiếng việt,phát triển 
năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 1, lan tỏa biện pháp hữu ích cho đồng 
nghiệp mình. 
 2. Ứng dụng của giải pháp 
 Đối với các biện pháp tôi đã áp dụng trên lớp của mình, tôi đã mạnh dạn 
chia sẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tổ, trường và trong tổ khối 1 của 
mình. Và được các đồng chí giáo viên trong tổ áp dụng và mang lại hiệu quả 
nhất định. 
 Đối tượng áp dụng: Là giáo viên và học sinh khối 1 đơn vị tôi công tác. 
Là học sinh và giáo viên trong thành phố và có thể áp dụng với học sinh và 
giáo viên lớp 1 trên toàn tỉnh. 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận 
 Để đạt được kết quả tốt khi dạy học,đòi hỏi giáo viên phải nhiệt tình yêu 
nghề,say mê tìm hiểu các phương pháp,giải pháp mang lại hiệu quả học tập 
cao nhất giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức để làm chủ kiến thức. 
 Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy tình hình học tập của 
học sinh đã phát triển tích cực. Đa số các em nắm chắc cấu tạo âm vần, giúp 
đọc tốt hơn chữ viết đẹp hơn, trong quá trình giao tiếp và học tập học sinh 
mạnh dạn và tự tin hơn phát huy được năng lực tự học của mỗi học sinh. 
Thông qua việc rèn đọc và phát âm để hình thành nhân cách, đức tính cẩn 
thận, tác phong nhanh nhẹn cho học sinh từ đó các em biết vận dụng trong 
học tập và kĩ năng sống hàng ngày. 
 Tôi cũng tích cực học tập, trau dồi chuyên môn trong quá trình giảng dạy, 
áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng, tham khảo các nguồn học liệu để 
giảng dạy, quan tâm đến từng đối tượng học sinh để kịp thời giúp đỡ động viên 
học sinh, tạo không khí vui tươi trong học tập, linh hoạt trong phương pháp và 
hình thức tổ chức dạy học để phù hợp với các đối tượng học sinh. 
 19 
 2.Kiến nghị 
 2.1.Với các cấp lãnh đạo: 
 - Chương trình GDPT 2018 nói chung và môn Tiếng Việt tiểu học được 
thiết kế theo hình thức mở vì vậy các cấp lãnh đạo nên trao quyền chủ động 
cho nhà trường, giáo viên trong xây dựng kế hoạch. Theo định hướng đó, nhà 
trường và giáo viên sẽ chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy học phù 
hợp,đa dạng phát huy tối đa các năng lực, phẩm chất của học sinh. 
 - Tăng cường bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và lý 
luận về đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên Tiểu học tạo điều kiện 
cho giáo viên học tập và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả. 
 - Cần đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy - học, giúp cho 
học sinh thấy hứng thú với môn Tiếng Việt nói chung và các môn học khác. 
 2.2.Đối với giáo viên: 
 - Bản thân tôi và tất cả các đồng chí giáo viên cần không ngừng nâng cao 
học hỏi và tìm hiểu về chương trình GDPT mới,tiếp thu kết quả ghiênn cứu 
của các nhà giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. 
 - Việc đọc mẫu của giáo viên là khâu quan trọng giúp học sinh luyện tập 
thể hiện sự cảm nhận về nội dung, ý nghĩa của bài đọc qua giọng đọc, đồng 
thời qua đó các em học tập cách đọc của giáo viên vì vậy giáo viên cần luyện 
đọc thường xuyên để có giọng đọc thật chuẩn có sức thuyết phục. 
 - Cần phát huy luyện phát âm theo cặp, theo nhóm để ọch sinh luyện tập lẫn 
nhau.Trong quá trình giảng dạy nên tổ chức trò chơi học tập để thay đổi 
không khí học tập gây hứng thú cho học sinh. 
 - Giảng dạy nhiệt tình, tạo lên không khí học tập sôi nổi để giúp mọi đối 
tượng học sinh nắm bắt được kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Đặc biệt chú trọng 
việc rèn thói quen có nề nếp học tập tốt cho học sinh 
 Trên đây là biện pháp nâng cao năng lực ngôn ngữ qua các bài học âm 
vần Tiếng Việt 1 của tôi đã áp dụng trong năm học vừa qua.Tôi tin tưởng rằng 
biện pháp của mình sẽ sớm được áp dụng rộng rãi giúp cho học sinh nâng cao 
 20 
năng lực đọc,viết,nâng cao năng lực tự học sáng tạo, tự tin khi giao tiếp nhằm 
góp phần hình thành nhân cách toàn diện, phát triển toàn diện về “đức- trí- 
thể- mĩ” cho học sinh. 
 Trân trọng cảm ơn! 
 TP Bắc Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2022 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Đỗ Thị Phương Nguyễn Thùy Linh 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_nang_cao_nang_luc_ngon_ngu_qua_cac_bai_hoc_am_van_tieng.pdf